CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TÌNH CẢM, KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO TRẺ 5-6 TUỔI TẠI TRƯỜNG MẪU GIÁO 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Ở các nước, GDMN thường lựa chọn và căn cứ vào một số lí thuyết GD qua trải nghiệm. Tiêu biểu có các tác giả với các lí thuyết nổi tiếng như: - Deway John (nhà triết học, tâm lí học người Mĩ) coi trọng việc GD KNXH thông qua các hoạt động tạo cơ hội cho người học được trải nghiệm.
Trong công trình “Experience and education”(kinh nghiệm và GD) ông chủ trương xây dựng “nhà trường hoạt động” - “dạy học qua việc làm”, khẩu hiệu của ông là: “Lí luận ít chừng nào hay chừng ấy”. Ông cho rằng con người có bản chất hợp tác, trẻ cần được dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề và cần được trải nghiệm quá trình sống hợp tác trong nhà trường [18]. - David Kolb (nhà giáo dục người Mĩ) trong lí thuyết “Experiential learning” (học qua trải nghiệm) nhấn mạnh việc học qua trải nghiệm của trẻ. “Học tập là quá trình trong đó kiến thức được tạo ra thông qua sự chuyển đổi của kinh nghiệm.” Ông nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm trong quá trình học tập.
Ông đưa ra quy trình học trải nghiệm bao gồm 4 bước: Kinh nghiệm cụ thể; Quan sát suy ngẫm; Khái niệm trừu tượng; Thử nghiệm thực tế [40].- Maria Montessori (nhà giáo dục người Ý) chú trọng môi trường cho trẻ tìm tòi khám phá cuộc sống với 3 đặc trưng cơ bản là: Việc học thông qua trải nghiệm bằng các giác quan. Quan điểm thể hiện rõ nguyên tắc lấy trẻ làm trung tâm và môi trường học cụ, qua kinh nghiệm tiếp xúc với học cụ, trẻ tự học và khám phá kiến thức và khả năng của mình. Trẻ học qua tự khám phá bằng những trải nghiệm của bản thân và qua đó tự chỉnh sửa lỗi và hoàn thiện sản phẩm của mình. Trẻ không những học cái gì mà quan trọng hơn trẻ còn được học cách học như thế nào và bồi dưỡng lòng say mê khám phá cho mình.
- Lí thuyết kiến tạo: Piaget Jean (nhà Tâm lí học, triết học Thụy Sĩ) coi sự hợp tác của trẻ em trong các trải nghiệm hoạt động nhóm sẽ tạo cơ hội để rèn luyện hành vi ứng xử. Ông đã cho rằng chính sự giao lưu xã hội giữa các học sinh đã đẩy nhanh sự tiến triển nhận thức của trẻ. đưa ra lí thuyết vùng cận phát triển (zone of proximal development). Trong đó, ông đã cho rằng hầu hết mỗi đứa trẻ đều có “vùng tiềm năng”.
Nếu được hỗ trợ của nhà giáo dục, của người lớn xung quanh hay bạn chơi lớn hơn và dưới sự hoạt động nỗ lực, trải nghiệm tích cực của chính bản thân trẻ thì tiềm năng đó sẽ được bộc lộ thành hiện thực. Có thể coi trải nghiệm của trẻ là cơ sở để trẻ giải quyết các vấn đề nhận thức, các vấn đề trong cuộc sống của trẻ và đó cũng chính là con đường để phát triển bản thân. Như vậy, mỗi tác giả có một lí thuyết 6 về trải nghiệm riêng nhưng chung quy lại đều có điểm đồng nhất đó là: Quá trình học chỉ thành công khi chủ thể trải nghiệm, chủ thể sẽ dựa vào kiến thức kĩ năng cần thiết để kiểm chứng hay phát hiện suy ra những kiến thức mới. Khi đó, chủ thể lại tiếp tục rút ra được những kinh nghiệm mới và đó là con đường cần thiết, cơ bản của hoạt động nhận thức.
Kinh nghiệm thu được sau khi trải nghiệm chính là nguyên liệu để chủ thể áp dụng vào quá trình nhận thức, vào quá trình sống, vào hoạt động thực tiễn. Lí thuyết này được coi là căn cứ để xây dựng mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức GD KNXH cho trẻ mầm non. Giáo dục kĩ năng xã hội qua trải nghiệm trong chương trình giáo dục mầm non của một số nước trên thế giới. [22] Trong chương trình GDMN của các nước như: Mĩ, Nhật Bản, Singapore, New Zealand,.
thì GD KNXH được coi là nội dung, nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể: * Mĩ: Mục tiêu của chương trình GDMN được chia theo bốn lĩnh vực phát triển: - Sự phát triển cá nhân và xã hội; - Sự phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội; - Sự phát triển nhận thức; - Sự phát triển các biểu hiện sáng tạo/thẩm mĩ. Nội dung GD KNXH đặt ra các chuẩn nội dung mà chương trình GDMN sẽ cung cấp cho trẻ các cơ hội như: Nhận thức về bản thân với các đặc điểm cơ bản,sự giống/tương tự và những sự khác nhau chủ yếu ở mọi người; tò mò sáng tạo, tự định hướng và kiên trì trong các tình huống; nhận thức tình cảm của bản thân và của người khác qua nhận thức xã hội, quan sát, tư duy và phân tích xã hội; tham gia nhóm, nhận thức các quan hệ trong nhóm; tự kiểm soát, tự điều chỉnh và thích nghi trong các tình huống của nhóm; ứng xử xã hội, giao tiếp phù hợp với bạn bè và những người xung quanh; sử dụng các chiến lược giải quyết xung đột phù hợp độ tuổi.Trong mỗi chuẩn nội dung, chương trình đều đưa ra các trải nghiệm GD để trẻ đạt được chuẩn đó. * New Zealand: Có bốn nguyên tắc cơ bản trong một chương trình chăm sóc GDMN: - Quyền; - Sự phát triển hợp lí; - Gia đình và cộng đồng; - Các mối quan hệ.
Các lĩnh vực và mục tiêu phát sinh từ bốn nguyên tắc đó. Chương trình chia ra năm lĩnh vực: - Sức khoẻ và sự thoải mái về tinh thần; - Sự ràng buộc (xác nhận và mở rộng mối quan hệ với gia đình và thế giới xung quanh); - Sự đóng góp: Công bằng trong việc cung cấp các cơ hội học tập và đánh giá sự đóng góp của trẻ nhỏ; 7 - Giao tiếp; - Khám phá: Trẻ được học thông qua sự khám phá tích cực với môi trường. GDMN ở New Zealand chú trọng những trải nghiệm phù hợp tính nhân văn, tính quốc gia, tính văn hóa, tính phát triển, tính cá nhân và tính sư phạm. mỗi lĩnh vực phát triển đều dựa vào các hoạt động mang tính trải nghiệm của trẻ để đạt được mục tiêu.
Vì vậy, trong chương trình đề ra các trải nghiệm của trẻ một cách cụ thể và khoa học. Chương trình đã giúp trẻ nhận thức các quan hệ xã hội với gia đình và thế giới xung quanh, về quyền và nghĩa vụ của trẻ với gia đình và xã hội, cách ứng xử giao tiếp, là cơ sở để trẻ linh hoạt thích ứng với những thay đổi trong môi trường xã hội. * Nhật Bản GDMN ở Nhật Bản đặt ra 5 mục tiêu chính: - Trẻ có tâm hồn phong phú; - Trẻ khỏe mạnh; - Trẻ hòa nhập và có nhiều bạn thân; - Trẻ tích cực suy nghĩ, - Trẻ luôn cố gắng và nỗ lực. Để đạt được các mục tiêu đó thì GDMN Nhật Bản áp dụng 4 nguyên tắc cơ bản: - Chơi để học và học qua chơi; - Tạo ra môi trường phong phú cho trẻ trải nghiệm; - Hãy để trẻ tự làm; - Có sự phối hợp thống nhất giữa gia đình và nhà trường.
Trong đó, các trải nghiệm ngoài trời được coi là hoạt động cơ bản và thường xuyên của các cơ sở GDMN. Trong các hoạt động đó, trẻ được thể hiện bản thân giữa các mối quan hệ tập thể và tự giải quyết các vấn đề theo hướng tích cực. * Singapore: Mục tiêu chủ yếu của các chương trình GDMN ở Singapore hướng tới: - Trải nghiệm cảm xúc; - Nhận thức về bản thân và các kĩ năng tự phục vụ; - Nhận thức về sự cần thiết của các kĩ năng giao tiếp xã hội; - Ham muốn sáng tạo. Nội dung GD KNXH được chia thành 2 nhánh cụ thể: - Phát triển cảm giác tích cực về bản thân (tự khám phá bản thân; Phát triển tính tự tin; Phát triển khái niệm tích cực về bản thân; Biết cách đề nghị giúp đỡ khi cần thiết); - Phát triển năng lực xã hội (trẻ học cách kiểm soát các cảm xúc của riêng mình; Trẻ đối mặt với những kinh nghiệm giải quyết vấn đề; Trẻ tham gia vào các mối quan hệ).
Trong đó nhấn mạnh trẻ em cần được tạo nhiều cơ hội trải nghiệm trong thế giới của chúng. Như vậy điểm qua một số chương trình GDMN của các nước tiên tiến cho thấy: 8 GD TC,KNXH đặc biệt được đề cao và xu hướng chung là GD TC, KNXH cho trẻ, là nhà GD tạo ra cơ hội, thách thức để trẻ suy ngẫm, tích cực tìm tòi khám phá, tích cực thể hiện thái độ, hành vi cụ thể để giải quyết các vấn đề. Đó chính là học qua trải nghiệm. Các nghiên cứu ở trong nước Chương trình GDMN ở Việt Nam đã quan tâm đến GD TC, KNXH cho trẻ.
Tuy nhiên, mức độ KNXH đạt được của trẻ vẫn đang là vấn đề mà gia đình, nhà trường và toàn xã hội hết sức lo lắng. Ở Việt Nam hiện nay, chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu con đường cách thức GD TC, KNXH cho trẻ một cách toàn diện. GD qua trải nghiệm còn thiếu các nghiên cứu về bản chất, quy trình, các yếu tố cấu thành trong học trải nghiệm ở trẻ. Đặc biệt, GD TC, KNXH qua trải nghiệm chưa được nghiên cứu và thử nghiệm áp dụng ở diện rộng.
Do vậy, giáo viên mầm non và các bậc cha mẹ thiếu cơ sở lí luận, thiếu tài liệu hướng dẫn để có thể tham khảo trong quá trình thực hiện. Cần xây dựng, bổ sung hệ thống lí luận đầy đủ và mang tính cụ thể mà ở đó có các quan điểm, triết lí GD được thể hiện một cách rõ ràng. Ngoài ra, cần có các đợt tập huấn cho giáo viên mầm non về GD TC, KNXH qua trải nghiệm với đầy đủ các thành tố của một quá trình GD từ việc xây dựng mục tiêu đến việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện thực hiện. Xác định các mục tiêu GD TC, KNXH cụ thể phù hợp với từng từng độ tuổi.
Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và đặc điểm TC, KNXH để xây dựng mục tiêu và nội dung GD TC, KNXH cho trẻ ở từng giai đoạn như: Trẻ nhà trẻ, trẻ 3-4 tuổi, trẻ 4- 5 tuổi, trẻ 5- 6 tuổi. Nếu không phân chia mức độ thì việc GD sẽ mang tính chung chung và không hiệu quả. Để thực hiện tốt việc GD TC, KNXH cho trẻ, trước hết cần có chương trình chuẩn chăm sóc GDMN có mục tiêu, nội dung GD TC, KNXH đầy đủ, phù hợp với độ tuổi.