Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường 6 trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng công tác quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường trung học phổ thông trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Chương 3: Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở các trường THPT trên địa bàn huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Bối cảnh nghiên cứu 1. Vấn đề tổ chức hoạt động hướng nghiệp 1. Những nghiên cứu nước ngoài Hơn 100 năm qua, lịch sử về giáo dục hướng nghiệp trên thế giới đã có sự phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một trong các lĩnh vực được tích hợp trong giáo dục đào tạo ở nhiều quốc gia. Pháp là một trong những quốc gia nghiên cứu sớm nhất về giáo dục hướng nghiệp.
Vào năm 1848, những người làm công tác hướng nghiệp ở Pháp đã xuất bản cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề”, cuốn sách này nói về việc giúp thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp. Đồng thời Pháp cũng đã thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học và hướng nghiệp vào năm 1960. Cho đến năm 1975, việc cải cách giáo dục ở Pháp đã chú ý chăm lo giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh. Liên Xô (Nga), cuốn sách về hướng nghiệp “ Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình Đại học tổng hợp” của tác giả Petecbua.Kapeev, trường Đại học tổng hợp được xuất bản đầu tiên vào năm 1997, trong cuốn sách này tác giả có nêu lên ý nghĩa lựa chọn nghề khi thi vào trường đại học.
Ở những năm 20, 30 của thế kỷ XX, công tác giáo dục hướng nghiệp được triển khai nhằm định hướng lao động phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Năm 1930, tại Matxcơva đã thành lập phòng tư vấn và lựa chọn nghề nghiệp trực thuộc Trung ương Đoàn cộng sản Lênin. Đến những năm 1990, nhiều nhà nghiên cứu như E.A Kruchetxki đã quan tâm phát triển công tác giáo dục hướng nghiệp, các tác giả nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp, động cơ, thái độ chọn nghề, các giá trị về nghề mà học sinh quan tâm, từ đó đưa ra những chỉ dẫn để giúp học sinh chọn nghề phù hợp với bản thân trong tương lai. Ở Đức, từ năm 1995 - 1996, đã có 567 phòng tư vấn nghề nghiệp, đặc biệt trong 1 năm đã hỗ trợ hơn 400.000 thanh niên lựa chọn nghề nghiệp.
Các nhà nghiên cứu, các nhà sư phạm đã xác lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại học sinh ngay sau mỗi bậc học. Đồng thời họ cũng đã quan tâm đến 8 nội dung, phương pháp và hình thức dạy học lao động nghề nghiệp kết hợp với việc tổ chức cho học sinh phổ thông đến thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, ở các cơ sở kinh doanh - dịch vụ. [ Võ Hưng, Phạm Thị Bích Ngân, 2009, tr 55] Ở Mỹ, Vào những năm đầu của thế kỷ XX, Frank Parsons đã nghiên cứu đưa ra lý thuyết về giáo dục hướng nghiệp với cách tiếp cận “yếu tố nhân cách”. Ông cho rằng để chọn được nghề phù hợp thì mỗi cá nhân phải hiểu được chính xác đặc điểm nhân cách của mình, có kiến thức về các lĩnh vực nghề, đánh giá khách quan và hợp lý về mối quan hệ giữa đặc điểm tính cách bản thân với thị trường lao động.
Đến giữa thế kỷ XX, nhà tâm lý học Jonh Holland đã đưa ra lý thuyết cho rằng con người có xu hướng chọn nghề mà trong môi trường làm việc đó họ sẽ thể hiện được cái tôi của chính mình. Lý thuyết này được các nhà quản lí nhân sự và quản lí giáo dục hướng nghiệp sử dụng rộng rãi trên thế giới và đạt hiệu quả. Nhiều biện pháp đã được áp dụng ở Nhật Bản để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học trong các trường tiểu học và trung học cơ sở. Mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề được quan tâm, trong đó chú trọng giáo dục nghề là hướng chọn cơ bản.
Từ năm 1952 đến năm 1982 đã có nhiều cuộc cải cách giáo dục với mục đích là đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Ở các nước ASEAN đã và đang tăng cường công tác GDHN cho học sinh phổ thông. - Tại Malaysia, ngoài việc góp phần phát triển nhân cách, công tác giáo dục còn chú tâm đến việc xây dựng nguồn nhân lực cho đất nước. Mục tiêu của các khóa học từ lớp 1 đến lớp 9 là tạo điều kiện cho học sinh tự trang bị cho mình những kiến thức về nghề nghiệp nhằm để giúp các em có kiến thức nền vững chắc khi bước vào ngưỡng cửa nghề nghiệp của tương lai.
- Tại Philippin, mục tiêu của giáo dục phổ thông ở nước này là đào tạo nguồn nhân lực với trình độ cần thiết để có thể lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai. Chính vì thế, ở cấp II đòi hỏi chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp, đồng thời học sinh phải tự rèn luyện cho mình tinh thần làm việc tối thiểu để có thể chọn nghề phù hợp với năng lực và nhu cầu lao động của xã hội trong tương lai. 9 - Tại Thái Lan, ngay từ Tiểu học, học sinh đã được trang bị cho mình những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc như nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công. Lên cấp II, học sinh được tiếp tục GDHN gắn với một nghề cụ thể trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh.
Cùng với các tiền đề đó, khi bước vào cấp III, học sinh được giáo dục hướng nghiệp với những kĩ năng nghề nghiệp theo quy định của Bộ, khi học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp chứng chỉ nghề. Tác giả Jacques Delors - Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO đã viết: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và để tự khẳng định mình” và Ông cho rằng đây là những trụ cột của giáo dục toàn cầu. Theo Jacques Delors, học nghề phổ thông là một vấn đề không thể thiếu được đối với học sinh. Đồng thời tác giả đã nhấn mạnh học sinh có cơ hội phát triển năng lực song song với việc tham gia các hoạt động nghề nghiệp và việc học tập tri thức.
Như vậy, GDHN được các nhà nghiên cứu trên thế giới bắt đầu quan tâm, nghiên cứu thành hệ thống một cách khoa học ở đầu thế kỷ XX. Tại Việt Nam, GDHN mặc dù được nghiên cứu muộn hơn nhưng cũng đã góp phần vào mục tiêu giáo dục toàn diện và phân luồng học sinh, là bước quan trọng trong việc định hướng phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Những nghiên cứu trong nước Chủ tịch Hồ Chí Minh (1960) viết “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Người cũng đã khẳng định: “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động - Lý luận đi với thực hành - Cần cù đi với tiết kiệm”.
Đồng thời người cũng đã đề cập đến một yếu tố mới của giáo dục là “Việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội. Đó cũng chính là những nội dung giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ. Theo Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo phổ thông”, Quyết định số 522/QĐ-TTg, ngày 14/5/2018, của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt “Đề án Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 10 2018-2025”(Chính phủ, 2018), góp phần bổ sung vững chắc cho những căn cứ hỗ trợ công tác giáo dục hướng nghiệp. Vấn đề tổ chức hoạt động hướng nghiệp cho học sinh THPT Một số đề tài đã được nghiên cứu như: - Tác giả Lê Thị Thu Trà (2016), Quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên địa bàn Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Viện khoa học Giáo dục Việt Nam - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Trong đó, xây dựng luận cứ khoa học và các giải pháp quản lí GDHN ở các trường THPT góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong khu vực, cả nước và tại địa phương. - Tác giả Phạm Đăng Khoa (2016), Quản lí giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT theo định hướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của giáo dục hướng nghiệp và quản lí giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông, đề xuất các giải pháp quản lí nhằm thực hiện có hiệu quả giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển nhân lực. - Tác giả Bùi Văn Hưng (2013), Quản lí hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, Luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Tác giả nghiên cứu lí luận đồng thời đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất những giải pháp quản lí hoạt động GDHN trong các trường dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu của thị trường lao động trong nước [Bùi Văn Hưng, 2013]. Như vậy, GDHN được các nhà nghiên cứu trên thế giới bắt đầu quan tâm, nghiên cứu thành hệ thống một cách khoa học ở đầu thế kỷ XX. Tại Việt Nam, GDHN mặc dù được nghiên cứu muộn hơn nhưng cũng đã góp phần vào mục tiêu giáo dục toàn diện và phân luồng học sinh, là bước quan trọng trong việc định hướng phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Trong các công trình nghiên cứu về công tác hướng nghiệp đã tập trung vào những vấn đề như: 11 + Vấn đề lịch sử phát triển hệ thống công tác hướng nghiệp ở các nước trên thế giới và ở Việt nam.
+ Bản chất khoa học của công tác hướng nghiệp. + Mục đích, nhiệm vụ, vai trò của công tác hướng nghiệp.