CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Trong mọi thời đại thì vấn đề đạo đức luôn được xã hội quan tâm và đề cập đến bởi những giá trị chuẩn mực đạo đức góp phần trong nền tảng tinh thần và giữ vững ổn định thúc đẩy xã hội phát triển.Và vì lẽ đó đã có rất nhiều tư tưởng đạo đức có học thuyết khác nhau quan niệm về đạo đức. Aristoste (384-322-TCN) cho rằng không phải hy vọng vào Thượng đế áp đặt để có người công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đất mới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức.Đồng thời cũng khẳng định rằng phải giáo dục con người về đạo đức để phát triển ý chí, lý chí, thể lực.Akomenxki (1592-1670) đã đúc kết “Một số quy tắc trong ứng xử” để giảng dạy cho thanh niên học sinh.
Ông đưa ra phương pháp nêu gương cho học sinh bắt chước, đặc biệt là gương mẫu của thầy giáo,cha mẹ và người xung quanh, đồng thời tách HS ra khỏi những người xấu, hiện tượng xấu trong cuộc sống. Học thuyết Mác – Lê nin khẳng định: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội; nó phản ánh và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng thay đổi theo. Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát triển. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nghiên cứu ở trong nước Chủ Tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đã tiếp thu những quan điểm đạo đức của Mác-Lê nin và làm nên cuộc Cách mạng trền lĩnh vực đạo đức. Người gọi đó là đạo đức mới, đạo đức cách mạng.
Lúc sinh thời Người luôn chú trọng đến vấn đề đạo đức, Người nói:” Dạy cũng như học phải chú trọng cả tài lẫn đức” “Có tài mà không có đức thì là người vô dụng”. Người coi trọng mục tiêu giáo dục đạo đức và cho rằng: “Học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng không chỉ là để chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù của giai cấp và dân tộc mà còn xây dựng xã hội mới – xã hội XHCN. Vì vậy, giáo dục đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cần thiết ” (Hồ Chí Minh, 1990). Trong công cuộc đổi mới và hội nhập của đất nước thì vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh ở Việt Nam hiện nay được mọi người đặc biệt quan tâm.
Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả nước ta đã nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Hoàng Gia, Phạm Tất Dong và nhiều tác giả khác. Tác giả Phạm Minh Hạc đã nêu lên các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ CNH – HĐH đất nước và nêu lên 6 biện pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho con người Việt nam thời lỳ CNH – HĐH: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức giáo dục đạo đức trong các trường học; củng cố giáo dục gia đình và cộng đồng, kết hợp chặt chẽ với giáo dục nhà trường trong việc giáo dục đạo đức cho con người; kết hợp chặt chẽ giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của các cơ quan thi hành pháp luật; tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và các phong trào rèn luyện đạo đức, lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ đảng viên, cho các thầy cô các trường học; xây dựng một cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức; nâng cao nhận thức cho mọi người” [16,tr. Tác giả Đặng Vũ Hoạt đã nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) trong công tác giáo dục học sinh, trong đó có giáo dục đạo đức. Tác 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giả đã đưa ra các định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc đổi mới nội dung, cải tiến phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường phổ thông.
Tác giả Hà Thế Ngữ đã nghiên cứu về vấn đề tổ chức quá trình giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội nhằm giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dưỡng ý thức đạo đức cách mạng, hướng dẫn các hành vi đạo đức học sinh.[24,tr8] Còn nhiều tác giả khác như Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng, Đặng Quốc Bảo đã có các công trình nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đức, quản lý nhà trường, xây dựng con người mới XHCN. Tác giả Phạm Khắc Chương đã nghiên cứu một số vấn đề giáo dục đạo đức ở trường THPT. Tác giả đã đề cập đến vấn đề rèn luyện ý thức đạo đức công dân cho người học sinh. Với cuốn “Văn hóa với thanh niên-Thanh niên với văn hóa” do ban tư tưởng văn hóa trung ương biên soạn tập hợp nhiều bài viết của tác giả, trong đáo có tác giả Hà Nhật Thăng trong bài viết của mình đã nêu lên thực trạng đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của thanh niên, sinh viên hiện nay và nhận định : trong sinh viên học sinh có sự phân hóa rõ rệt,tỷ lệ giữa các nhóm đạo đức tốt, chậm tiến có sự chênh lệch quá lớn.Tuy nhiên các giá trị đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống của đa số thanh niên học sinh, sinh viên hiện nay quan tâm vẫn là cốt lõi giá trị đạo đức của nhân cách con người Việt Nam.Cũng có bộ phận nhỏ học sinh, sinh viên có sự giao động về nhậ thức và có hành vi sai trái liên quan đến một số giá trị như trung thực, thẳng thắn, tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái.Tác giả nêu khái quát nguyên nhân là công tác GDĐĐ chưa được coi trọng đúng mức và đồng bộ.Quá trình giáo dục còn nặng về kiến thức mà xem nhẹ tu dưỡng rèn luyện đạo đức,không phù hợp với lứa tuổi.Từ thực trạng và nguyên nhân trên tác giả đã đề xuất 8 giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.TS Đặng Quốc Bảo với “Một số ý kiến về nhân cách thế hệ trẻ, thanh niên, sinh viên và phương pháp giáo dục”. Nhân cách thế hệ trẻ đang trên đà suy thoái, thực tế các môn giáo dục đạo đức, môn giáo dục công dân không còn hứng thú với học sinh trở thành môn phụ nên tác động của môn học hiệu rất quả thấp. Điểm lại công trình nghiên cứu trên tuy nhiên quan điểm có khác nhau song có một điểm chung là đa số học sinh, sinh viên có phẩm chất đạo đức tốt, ham học hỏi, hiểu đạo lý, có ý thức về truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc. Mặc dù nhận thức và hành động của bộ phận nhỏ chưa đạt chuẩn mực về đạo đức của người học sinh hiện nay có chiều hướng gia tăng.
Các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức khá nhiều nhưng chưa phù hợp với từng hoàn cảnh thực tế nhà trường và địa phương có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau.Hơn nữa trong bối cảnh hội nhập hiện nay ít nhiều tác động lên tâm lý đời sống mỗi cá nhân nhất là lớp thanh niên trẻ nhạy cảm hiện nay.Từ đó thấy được sự tính cấp thiết trong công tác giáo dục đạo đức hết sức quan trọng. Mà hiện nay chúng ta tham gia hội nhập WTO thì nhu cầu đáp ứng nhân lực đáp ứng CNH-HĐH vô cùng cấp bách. Nguồn nhân lực đòi hỏi có trình độ khoa học kỹ thuật, vừa có phẩm chất đạo đức vừa có tay nghề cao.Tóm lại nguồn nhân lực mới phải có cả “Đức và tài” “Vừa hồng và vừa chuyên”. Vậy một điều ai cũng trăn trở tại sao bên cạnh thành tựu đạt được về kinh tế thì tiêu cực và tệ nạn ngày càng diễn biến phức tạp, mà đối tượng phần đa là thanh thiếu niên đang độ tuổi học sinh.Trách nhiệm nhà trường làm gì để giáo dục và ngăn ngừa hành vi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức hiện nay.
Như đã phân tích trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài là cấp thiết, thiết thực góp phần giải quyết tháo gỡ những bất cập trong thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực toàn diện.Còn đối học sinh ở các trường dân tộc nội trú thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều. Chính điều đó đã thúc đẩy tác giả nghiên cứu đề tài này với mong muốn đề xuất biện pháp quản lý giáo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục đạo đức cho học sinh trường PTDTNT-THPT huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên. Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1. Khái niệm về quản lý Theo thuyết quản lý khoa học Frederich Winslow Taylor(1856-1915) cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học 1.
Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành. Tuyển chọn công nhân họ một cách cẩn trọng và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học được hình thành 3. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ và toàn diện với người bị quản lý để đảm bảo chắc chắn họ làm theo phương pháp đúng đắn. Phân chia công việc và trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý.
Theo thuyết quản lý hành chính Henri Fayol(1841-1925) cho rằng quản lý hành chính là sự dự đoán và lập kế hoạch ,tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra [11,tr.Với thuyết này đã đóng góp to lớn cho sự phát triến lý luận quản lý, đặc biệt là việc phân chia rạch ròi hoạt động quản lý thành những chức năng,điều này vẫn ảnh hưởng xuyên suốt đến mọi nghiên cứu về quản lý cho đến ngày nay. Nguyễn quốc Chí và PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo(lãnh đạo) và kiểm tra.