Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức của hiệu trưởng trường trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý giáo dục đạo đức ở trƣờng phổ thông Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội được hình thành rất sớm trong lịch sử. Cũng như các hình thái ý thức xã hội khác, đạo đức phản ánh sự tồn tại và phát triển của tồn tại xã hội. Đạo đức có ý nghĩa và có vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách và thiết lập tới quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa các tập thể và quốc gia, đó là quy luật phát triển của con người và xã hội. Chính vì vậy, đã từ lâu nhân dân lao động đặc biệt các học giả đã có nhiều ý kiến về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức.
Nói về vai trò của đạo đức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Đạo đức là cái gốc của người cách mạng”, Người thường nói có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì có khi hại nước, hại dân. Vì vai trò của đạo đức mà nhiều nhà nghiên cứu đã để tâm nghiên cứu về đạo đức, và giáo dục đạo đức, trong đó phải kể đến những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận “đạo đức cách mạng” mà toàn Đảng, toàn dân đang có phong trào thi đua “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Phải khẳng định lý luận về đạo đức cách mạng của Người là những cống hiến vĩ đại, đặt nền móng cho phương pháp luận để nghiên cứu và tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho toàn Đảng, toàn dân, cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, trong đó có giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường học. Bàn về đạo đức, phải kể đến Vũ Khiêu, Phạm Hưu, Phan Văn Diễn, song tiêu biểu nhất là Vũ Khiêu với tư cách là đạo đức học, ông đã làm sâu sắc nguồn gốc của đạo đức xã hội chủ nghĩa, bản chất và đặc điểm của đạo đức xã hội chủ nghĩa và các con đường hình thành, phát triển của đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Những 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan điểm của ông được thể hiện trong tác phẩm “Đạo đức mới” (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội – 1974); Bàn về giáo dục đạo đức thì tiêu biểu nhất là GS Nguyễn Lân; Hà Thế Ngữ; Nguyễn Thị Đoan; Nguyễn Khánh. Đó là những cán bộ giảng dạy của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã viết giáo trình về lý luận giáo dục đạo đức, giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên, giáo dục gia đình từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX. Trong những công trình nghiên cứu của các cán bộ nghiên cứu ở thời kỳ này cũng đã bàn về mục tiêu, nội dung, phương pháp, các nguyên tắc của quá trình giáo dục đạo đức, đã quan tâm tới đặc điểm của giáo dục đạo đức và xác định sự cần thiết kết hợp các lực lượng trong giáo dục (thường gọi là ba kết hợp, đó là kết hợp gia đình, nhà trường, xã hội), phân tích vai trò của Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên tiền phong trong hoạt động giáo dục đạo đức. Bước vào giai đoạn đổi mới đất nước và chuẩn bị cuộc “cách mạng” giáo dục nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, yêu cầu nghiên cứu đạo đức và đổi mới giáo dục đạo đức trở thành một vấn đề cấp thiết trong mô hình nhân cách và phát triển nhân cách con người Việt Nam.
Trong giai đoạn này có rất nhiều người nghiên cứu, nhưng tiêu biểu nhất là GS Phạm Minh Hạc và đội ngũ cán bộ của “Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức và công dân” ở Viện Khoa học Giáo dục. Tiêu biểu nhất cho kết quả nghiên cứu về giáo dục đạo đức ở thời kỳ này tập trung trong công trình nghiên cứu cấp nhà nước “Phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá” do giáo sư Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm kéo dài mười năm (1990 – 2000) chia làm hai chu kỳ. Kết quả xác định mục đích giáo dục đạo đức và nêu lên trên bốn mươi giá trị, dựa trên năm quan hệ của chủ thể (quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc, với môi sinh và với lý tưởng của cộng đồng dân tộc) là cơ sở xây dựng mục tiêu và các phương thức giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Một trong những công trình nghiên cứu giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông có giá trị thức tiễn nhất là công trình nghiên cứu xây dựng chương trình giáo dục thể hiện qua môn “Đạo đức” ở tiểu học, “Giáo dục công dân” ở trung học cơ sở, trung học phổ thông và thông qua chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớp được thiết kế hệ thống từ lớp 1 đến lớp 12 do PGS.
TS Hà Nhật Thăng làm trưởng tiểu ban xây dựng. Lần đầu tiên trong chương trình giáo dục phổ thông, vấn đề giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông được xây dựng một cách hệ thống, liên thông, đồng tâm phát triển giữa ba cấp học, bao gồm: - Mục tiêu giáo dục đạo đức. - Hệ thống chuẩn mức đạo đức được thể hiện qua hệ thống bài (từ lớp một đến lớp mười hai); dựa trên năm quan hệ của chủ thể (với bản thân, người khác, công việc, môi sinh, và lý tưởng cộng đồng). - Xác định những phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông.
- Xây dựng được một hệ thống đồ dùng dạy học cho mỗi bài. Cho đến nay những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức chủ yếu là nghiên cứu: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện, chức năng nhiệm vụ của các chủ thể tham gia quá trình giáo dục đạo đức (giáo viên, giáo viên chủ nhiệm, cha mẹ học sinh, con cái…). Chưa có công trình nào bàn luận về việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức nhằm tạo ra sự thống nhất hoạt động toàn trường trong quá trình tổ chức giáo dục đạo đức ở các cấp học. Đặc biệt nghiên cứu quản lý giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng các trường trung học phổ thông ở Nam Định nói chung, ở huyện Nghĩa Hưng nói riêng.
Tác giả luận văn hy vọng nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định” sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận quản lý giáo dục đạo đức - một mặt của quản lý giáo dục toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức nói riêng, hiệu quả giáo dục ở trường trung học phổ thông nói chung. Tóm lại, từ những nội dung đã trình bày, có thể nhận thấy vấn đề quản lý đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng góp phần vào việc quản lý đạo đức cho học sinh trong tỉnh Nam Định và học sinh trong cả nước là một việc làm cấp bách và thiết thực, thu hút sự nghiệp nghiên cứu của các nhà khoa học, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều cán bộ quản lý. Đã có một số tác giả nghiên cứu về biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông nhưng mới chỉ chuyên sâu vào một lĩnh vực nhất định hoặc một khu vực địa lý nhất định; chưa có tác giả nào nghiên cứu về biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định hoặc ở một địa bàn Huyện có vị trí địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội tương tự như ở huyện Nghĩa Hưng. Đó là nội dung chính mà đề tài tiếp tục nghiên cứu để đưa vào áp dụng.
Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài 1. Quản lý Định nghĩa quản lý có thể xét từ nhiều góc độ và các quan điểm tiếp cận khác nhau. - Quản lý là sự đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới; - Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định; - Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng). Quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển của một đơn vị, cơ quan”. Nghiên cứu về mặt quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan niệm này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung phương thức và mục đích của quá trình quản lý. Từ điển tiếng Việt “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”.
Trong khía cạnh khác “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) nêu bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự trông coi , giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đưa vào thế hệ “phát triển”.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”.