Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUAN LÝ HOAT DONG ĐỊNH HƯỚNG NGHE NGHIỆP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHO THONG 1. Lịch sử nghiên cứu 1. Ở nước ngoài Hướng nghiệp học đường và nghé nghiệp đã có lịch sử ra đời và phat triển với bẻ day trên dưới 100 năm trên thé giới và trên thực tế đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và chính sách được tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo, lao động, việc làm, dịch vụ và chính sách của nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới. Jacques Delors, chủ tịch Uy ban quốc tế độc lập về giáo duc cho thế ki XXI của UNESCO khí phân tích '' Những trụ cột của giáo dục” cũng đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách ton tại ", đó là 4 trụ cột mà Uy ban đã trình bảy và minh họa những nền tảng của giáo dục.
Năm 1848, ở Pháp xuất bản cuốn sách '“*'Hướng dẫn chọn nghề". Pháp là một trong những nước đã phát triển hướng học, hướng nghiệp và tư vấn nghé sớm nhất trên thế giới và cuốn sách này cũng được xem là cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp. Nội dung cuốn sách đề cập đến sự phát triển đa dang của các ngành nghề trong xã hội do sự phát triển của công nghiệp. Từ đó đã rút ra những kết luận coi hướng nghiệp là một vấn đề quan trọng không thé thiếu khi xã hội ngày càng phát triển và cũng là nhân tố thúc day xã hội phát triển.
Năm 1897, ở nước Nga, cuốn sách về hướng nghiệp “Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình đại học tong hợp”, trong đó nêu rõ ý nghĩa vẻ lựa chọn nghè khi thi vào trường đại học lần đầu tiên được xuất bản (tác giả la giáo su trường đại học tổng hợp Pêtecbua B. Nhưng việc chọn nghề ở nhiều nước trên thế giới chỉ giới hạn trong sự bat bình đẳng xã hội. Tất cả những tác phẩm nghiên cứu về hướng nghiệp chỉ nhằm vào mục dich tăng cường lợi nhuận thông qua việc bóc lột tối đa sức lực của người lao động. Năm 1909, Frank Parsons - giáo sư Đại học Pensylvania đã xuất bản cuỗn “Lựa chọn một nghề nghiệp" (Choosing Vocation).
Cuốn sách đã trình bay cơ sở tâm lý học của hướng nghiệp và chọn nghé, các tiêu chí về sự phù hợp nghẻ của mỗi cá nhân để từ đó có sự lựa chọn phù hợp. Hướng nghiệp cho học sinh phải dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân. Sau Cách mang tháng Mười Nga, van dé lựa chọn nghé nghiệp đã được hiểu theo một khái niệm mới gắn liền với vai trò chủ động tích cực của con người, nó không chi gắn liền với lợi ích kinh tế - xã hội mà còn tạo điều kiện dé phát triển nhân cách cho mỗi cá nhân.Krupskaia có nhiều bài viết khẳng định hiệu qua lao động phan lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp. Từ những năm 20, 30 của thế ki XX, công tác hướng nghiệp đã được triển khai trên đất nước Xô Viết nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ.
Công tác hướng nghiệp được tiến hành nhờ các tô chức giáo dục, ủy ban bảo vệ sức khỏe và các tổ chức quân chúng. Năm 1927, ở Léningrat đã tổ chức hướng nghiệp với mục đích giúp cho tuôi trẻ va cha mẹ các em quen biết với nghề nghiệp. Vào năm 1930, ở Matxcova đã thành lập phòng thí nghiệm Trung tương về tư vấn nghé và lựa chọn nghề trực thuộc Trung ương đoàn thanh niên Cộng sản Lênin, trong đó phòng thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, tông kết và phd biến những kinh nghiệm tiêu biểu của các cơ quan tư vấn nghé, đặc biệt là việc lựa chọn nghề của tuôi trẻ trong các trường phô thông kĩ thuật. Năm 1977, các tác giả Morgan va Hart đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường, khẳng định giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường cân phải khuyến khích học sinh suy nghĩ về bản thân mình và về thế giới công việc, yêu cầu học sinh cần có kiến thức, hiểu biết và kĩ năng trong quá trình chọn nghề trước khi đưa ra quyết định nghề nghiệp thông minh.Herring khuyến khích các giáo viên phối hợp định hướng nghề cho học sinh thông qua những bài giảng hàng ngày trên lớp, td chức hoạt động tập thé hoặc các sự kiện đặc biệt như đi đã ngoại, lựa chọn sách, phim, clip và các phương tiện đại chúng khác.
Các tác giả này đã khái quát mục tiêu hướng nghiệp cho từng cấp học va những cách thức dé tiến hành những mục tiêu đó. Như vậy, hướng nghiệp đã xuất hiện từ rất lâu trên thể giới và các công, trình nghiên cứu về hướng nghiệp đều khẳng định vai trò của hướng nghiệp đối với thanh niên, học sinh. Vấn đề giáo dục hướng nghiệp và học nghé của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục, nhắn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức. Ở Việt Nam Các tư tưởng về hướng nghiệp ở Việt Nam xuất hiện khá sớm, tuy nhiên cho đến trước năm 1970 thì vấn đề hướng nghiệp chủ yếu đừng lại ở các quan điểm, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và Bác Hồ chứ chưa di sâu vào van dé nghiên cứu khoa học.
Những năm 60 của thế ki XX, van đề hướng nghiệp ở Việt Nam được bắt đầu phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn theo Liên Xô (cũ). Thời kì đầu, quan niệm hướng nghiệp đi đôi với giáo dục lao động, dé định hướng nghề nghiệp cho học sinh trước hết cần giáo dục học sinh thái độ sẵn sảng bước vào các hoạt động nghề nghiệp. Quan điểm này thể hiện rõ trong cuốn “Một số vấn dé giáo dục lao động”. Từ năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”, Trong bài báo “Học hay, cày giỏi”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một yếu tố mới của giáo dục.
Đó là “việc cung cấp cho học sinh những trí thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những ngành sản xuất chủ yếu trong xã hội". Đó cũng chính là những nội dung giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ. Vào những năm 1970 - 1980, các nghiên cứu khoa học hướng nghiệp ở Việt Nam mới bắt đầu được quan tâm và có những bước phát triển mạnh mẽ. Đầu những năm 80, khi xuất hiện nhu cầu đây mạnh giáo dục lao động, hướng nghiệp nhằm chuẩn bị kỹ năng cho học sinh đi vào cuộc sống thì hướng nghiệp mới thực sự được nha nước chú trọng đến.
Trong thời gian nay có các bài viết của các tác giả Pham Tat Dong, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Thị Bình, Đoàn Chi, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Văn Hộ đã đề cập đến trách nhiệm của nhà trường trong việc định hướng nghề cho học sinh, biện pháp hướng nghiệp cho học sinh va xây dyn một số cơ sở lý luận nên tảng về hướng nghiệp. Trong những năm 1983 — 1996, giáo dục hướng nghiệp ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng, được coi là thời kỳ thịnh vượng nhất. Năm 1985 — 1987, các tác giả Nguyễn Trọng Bảo, Doan Chi, Cù Nguyên Hanh, Hà Thế Ngữ, Tô Bá Trọng, Trần Đức Xước, Nguyễn Thế Quảng, Nguyễn Phúc Chỉnh đi sâu nghiên cứu việc tiến hành công tác giáo đục hướng nghiệp trong các trường phổ thông và dé cập đến hình thức giáo dục hướng nghiệp, dạy nghé trường phô thông và trung tâm hướng nghiệp như tổ chức lao động sản xuất cho học sinh, tư vấn nghề nghiệp cho học sinh. Tuy nhiên, từ sau khi Liên xô tan rä (1991) đã có những khủng hoảng về lý luận giáo dục hướng nghiệp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đối với giáo dục hướng nghiệp của Việt Nam.
Từ năm 1997, công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phô thông bị coi nhẹ, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triên nguồn nhân lực của đất nước. Năm 1996 - 2005, Nguyễn Viết Sự, Hà Thế Truyền đã dé cập các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ thuật và hướng nghiệp ở trường phổ thông. Năm 2003 - 2010, khái quát các kinh nghiệm hướng nghiệp của một số nước trên thế giới, có những đánh giá về công tác hướng nghiệp cho học sinh ở trường phổ thông và đưa ra những giải pháp về công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường phô thông và đưa ra những giải pháp về công tác hưởng nghiệp. Trong những năm gần đây, Dang và Nhà nước đã thấy được tầm quan trọng của định hướng nghề nghiệp cho học sinh phổ thông và có nhiều kế hoạch, chỉ thị dé triển khai hoạt động này một cách hiệu quả.
Các nhà khoa học ở nước ta đã đi sâu vào nghiên cứu những van dé lý luận chung về hướng nghiệp và giáo duc hướng nghiệp cũng như van đề quản lý giáo dục hướng nghiệp. Các đề tài trên là cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện hướng nghiệp trong nhà trường pho théng hién nay. Tuy nhién, công tac hướng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam nói chung và nhà trường phô thông nói riêng là một phạm trù còn khá mdi mẻ cả về mặt lý luận và hoạt động thực tiễn. Lý luận về quản lý hoạt động định hướng nghề nghiệp ở trường trung học phê thông 1.1, Khái niệm quản lý Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khién, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thé quan lý đến khách thé và đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và dat được mục tiêu dé ra.
Theo tác giả Tran Kiểm: “Quan 0ý la tác động có mục đích đến tập thé người dé tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động". Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quan ly là tác động có mục đích, có kế hoạch của chú thé quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thé quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dy kiến”.