CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE BIEU HIỆN CĂNG THANG CUA PHU HUYNH VE VIEC HOC TAP DINH HUONG NGHE NGHIEP CUA HOC SINH LOP 12 1. Lich sử nghiên cứu van đề căng thang (stress) của cha me hoc sinh lớp 12 về việc hoc tập định hướng nghề nghiệp của con 1. Một số nghiên cứu về van đề căng thang (stress) 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về vẫn đề căng thắng (stress) Trong cuộc sống ngày nay, người ta hay dé cập đến căng thang và xem đó như là một vấn đề của cuộc sống hiện đại.
Căng thăng trong nhiều lĩnh vực cuộc sống, căng thăng do nhiều nguyên nhân và căng thăng gây ra nhiều hậu quả. Thế nhưng căng thắng không chỉ là vấn đề của cuộc sông ngày nay. Từ xưa, van đề căng thang đã được đặt ra và quan tâm nghiên cứu. Van đề căng thăng (stress) ở con người đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ rất sớm, bắt đầu từ những nghiên cứu cơ thé con người thích ứng như thế nào đôi với các thay đôi ở bên ngoài, tức là khía cạnh sinh lý của căng thăng.
Đại diện tiêu biéu cho các nghiên cứu loại này là Claude Bernard (1850), ông cho rằng những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thé, nếu cơ thé bù trừ và làm cân bằng những thay đổi đó, chính hệ thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết bằng cách sắp đặt và làm hai hoà hoạt động các yếu tô của cơ thé và chỉ có con người mới có hệ thần kinh đủ khả năng điều tiết làm cho cơ thé lay lại cân bằng. Phát hiện của Claude Bernard khai phá lịch sử nghiên cứu hiện đại về kha năng tự điều chỉnh dé thích nghi của cơ thể con người. Tiếp nối ý tưởng của các nhà nghiên cứu về stress đi trước, nhà sinh lý học người Mỹ W. Cannon với tác pham nổi tiếng "Sự khôn ngoan của cơ thé" xuất bản tại New York năm 1933 đã đề xuất thuật ngữ "Homeostasie” nghĩa là "Cân băng nội môi" để mô tả những trạng thái phức hợp cân bằng sinh lý mà ông nhận thấy chủ yêu khi thay đổi nồng độ các chất có trong máu như: nước, natri, đường, đạm, mỡ.
Trên cơ sở sự điều tiết của hệ thần kinh thực vật và lõi thượng thận (catecholamin gồm hai chất adrenalin do lõi thượng thận và noadrenalin do thần kinh thực vật tiết ra), phản ứng này là cấp thời. Pavlov (1932) cũng đã nêu ra đặc tính chung của khái niệm này: ".Cơ thê là một hệ thống (đúng hơn là cái thấy) tự điều chỉnh, là một hệ thống tự điều chỉnh bản thân ở mức cao nhất, hệ thống ay tự duy trì ban thân, tự hiệu chỉnh ban thân, tự cân băng bản thân và thậm chí tự hoàn thiện bản thân. Kế thừa kết quả nghiên cứu của Claude Bernard về sự ổn định tương đối thường xuyên của nội môi ở động vật, điều kiện quan trọng nhất dé nó ton tại và phát triển, và khả năng tự điều chỉnh của W. Hans Selye đã nhận thấy bên cạnh những phản ứng đặc trưng do các yếu tố bất lợi khác nhau gây ra, co thé luôn luôn có những phản ứng chung nhất.
Năm 1936 ông gọi phản ứng chung, không đặc hiệu của cơ thể bằng thuật ngữ "stress". Thuật ngữ này lúc đầu thiên về bệnh học, nên dùng là "hội chứng", sau đó nó được hiểu là "Hội chứng thích nghi chung" (General adaptation syndrome) và thường được viết tắt là G.S, hiểu là phản ứng nhằm giúp cho cơ thê thích nghi với môi trường luôn thay đổi. Theo ông các đáp ứng này là những phan ứng không đặc hiệu, 6n định và sẵn có, giúp cơ thể thích nghi với tác nhân từ môi trường. GAS chỉ đạo hoạt động của hệ thần kinh và nội tiết cho phép cơ thé chống lại những kích thích có hại và được chia làm ba giai đoạn: báo động, kiệt sức và chống đỡ.
Selye giới thiệu toàn bộ lý thuyết của mình và khái niệm stress được đưa vào khoa học một cách chính thức vào năm 1946. Selye đã xem stress như là đáp ứng đối với tác động bên ngoài. Tác động bên ngoài vào co thé được ông biểu thị bang thuật ngữ “stressor”. Những công trình tiếp theo H.
Selye cho rang stress là sự tương tác giữa tác nhân bên ngoài và phan ứng của co thé trước tác nhân đó [2]. Các nghiên cứu theo hướng tiếp cận sinh lý chỉ ra rang; hoạt động của hệ thần kinh, hệ nội tiết, hoóc môn có ảnh hưởng rất lớn đến cảm xúc cơ thê và liên quan trực tiếp đến stress. Suvorova (1975) cho rằng biéu hiện của các phản ứng cảm xúc khi bị stress thé hiện không chỉ qua các phản ứng hoóc môn mà còn thông qua các phản ứng sinh lý đặc biệt của hệ thần kinh. Rôgiơ Déxovenxcaia và cộng sự (1980) bằng thực nghiệm đã khang định rang; khả năng làm việc giảm đi khi stress xuất hiện, sự giảm sút này ở những người có hệ thần kinh yếu xảy ra sớm hơn những người có hệ thần kinh mạnh.
Khả năng làm việc khi bị stress không chỉ phụ thuộc vào độ mạnh của hệ thần kinh mà còn vào một số các yếu tố khác. Những người có hệ thần kinh mạnh có thé dé bị stress hơn đối với tác nhân là đơn điệu và kéo dài. Những người có hệ thần kinh yếu ít bị stress hơn đối với các tác nhân đơn điệu. Điều này cho thấy; sự khác biệt về stress ở cá nhân không chỉ phụ thuộc vào tình huống, tác nhân tác động, mà còn phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh.
Các nhà sinh lý học thường chỉ tập trung mô tả các phản ứng sinh lý trước các tác động vào chủ thể, mà không nhận thấy tầm quan trọng của những đặc điểm tâm lý và hành vi trong các phản ứng sinh học của cơ thé. Sự xuất hiện của các phản ứng chống trả hoặc bỏ chạy phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của chủ thé đối với kích thích (có hại hay không có hại). Mason (1975) cho rằng; khi các tác nhân có hại tác động vào cơ thể mà chủ thể không nhận thức được, thì các đáp ứng sinh học của cơ thể sẽ không xảy ra. Ví dụ, những bệnh nhân sắp chết (đang trong tình trạng hôn mê) thì không có một bằng chứng 10 sinh học nào của stress; trong khi đó những người sắp chết nhưng còn tỉnh táo thì lại có những phản ứng sinh học rất rõ [33].
Một số nhà nghiên cứu đã cho rằng; cách thức đối phó của chủ thể đối với những tình huống nguy hiểm, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các phản ứng sinh lý đối với tình huống đó. Tác giả đã nhân mạnh đến tam quan trọng của nhận thức và sự kiểm soát của chủ thể đối với những phản ứng sinh học xảy ra do các kích thích từ bên ngoài. Vấn đề căng thăng của công nhân vào những năm 1990 ở vương quốc Anh cũng được quan tâm nghiên cứu. Tính trung bình có khoảng 15 — 20 % công nhân bị căng thắng đến mức ngã bệnh và phải nghỉ việc trong các nhà máy.
Căng thăng trong môi trường lao động khiến các ông chủ và những giám đốc điều hành (CEO) mắc bệnh tim nhiều gap 7 lần, và những cơn đột quy khiến người lao động phải nghỉ việc vì những xáo trộn trong đời sống tâm trí và cảm xúc. Chính những ảnh hưởng của căng thăng đối với tình trạng sức khỏe của con người đã khơi dậy mỗi quan tâm của giới nghiên cứu nhằm làm giảm thiểu căng thăng trong công việc, đặc biệt là trong những ngành sản xuất. Tiếp theo đó, các nhà nghiên cứu ở các nước khác thuộc châu Âu và cả ở Australia cũng bắt tay vào các nghiên cứu về đề tài này [19]. Có thé thấy, giai đoạn sơ khai của những nghiên cứu về căng thang, các nhà nghiên cứu quan tâm đến khía cạnh sinh lý, mô tả hoạt động của cơ thể trước căng thăng, những cơ chế của căng thăng, phản ứng sinh lý của cơ thể trước các tình huống gây căng thăng và về sau là những ảnh hưởng của căng thăng đến cơ thể con người.
I1 Ngoài những nghiên cứu tiếp cận căng thắng trên bình diện sinh lý còn có các nghiên cứu về căng thăng còn tiếp cận trên bình diện môi trường. Các công trình nghiên cứu những chiến binh trong chiến tranh của Grinker và Spiegal (1945) và nghiên cứu ton thương tâm lý của những người bị mat người thân trong chiến tranh của Lindemann (1944) đã cho thấy; không chỉ môi trường tàn khốc của chiến tranh gây ra căng thăng, mà ngay cả những sự kiện ít nghiêm trọng hơn cũng được tích luỹ dần lại và gây căng thăng cho chủ thé. Hướng nghiên cứu trên đã xem stress như một sự kiện của môi trường, yêu cầu cá nhân huy động mọi tiềm năng dé đáp ứng. Căng thang trú ngụ trong sự kiện hơn là trú ngụ bên trong cá nhân [35].
Holme và Rahe (1967) nghiên cứu căng thắng trên quan điểm môi trường, và đã chỉ ra những sự kiện gây căng thăng như: ly hôn, kết hôn, sinh con, mắc nợ, lễ giáng sinh. Mỗi sự kiện trên được xem như là những yếu tố gây căng thắng và doi hỏi cơ thé thích ứng. Nhiều nghiên cứu đã sử dụng công cụ SRE (danh sách các sự kiện mới nhất) của Holme và Rahe để đánh giá quan hệ giữa căng thăng và sức khoẻ. Những nghiên cứu này có thể giải thích căng thăng trong thời điểm hiện tại và chan đoán xu hướng của nó trong tương lai.
Rabkin và Struening (1976) nghiên cứu trên các bệnh nhân đột tử do bệnh tim đã làm rõ tương quan giữa số lượng với mức độ tác động của các yêu tố gây căng thăng đối với căn bệnh này [37]. Quan niệm stress như sự kiện từ môi t 12 rường cũng bị các lý thuyết, quan điểm khác phê phán. Một số nhà nghiên cứu cho rang; các sự kiện không gây căng thang giống nhau ở các cá nhân khác nhau. Mức độ căng thăng phụ thuộc vào ý nghĩa của sự kiện và những tiềm năng sẵn có ở mỗi cá nhân trong việc ứng phó với căng thăng.
Lazarus, Homikos và Rankin đã cho rằng quan niệm căng thắng như một sự kiện từ môi trường là chưa hoàn chỉnh và nhân mạnh; nhận thức sự kiện đóng vai trò trung tâm đối với căng thăng [26]. Một số nhà nghiên cứu khác như Sarason, Johnson, Siegel (1978) đã dựa thêm vào cách tiếp cận này với yêu cầu chủ thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của sự kiện đang trải nghiệm (tích cực hoặc tiêu cực). Thông qua kết quả đánh giá này có thể nghiên cứu được nhận thức và khả năng ứng phó của chủ thé trước sự kiện gây ra căng thắng.