phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng giáo dục nghề nghiệp cho học sinh cấp THPT tại Trung tâm GDTX. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học theo định hướng giáo dục nghề nghiệp cho học sinh cấp THPT tại Trung tâm GDTX ở tỉnh Phú Thọ. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý QL hoạt động dạy học theo định hướng giáo dục nghề nghiệp cho học sinh cấp THPT tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ. Kết luận và kiến nghị 6 Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Tìm hiểu các tư tưởng trên thế giới nghiên cứu về dạy học theo định hướng GDNN (giáo dục nghề nghiệp) và quản lý dạy học theo định hướng GDNN mặc dù đã được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh khác nhau. Trong phạm vi đề tài đề cập đến một số nghiên cứu sau: Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra tầm nhìn toàn thế giới về tư vấn và định hướng nghề nghiệp được lồng ghép trong HĐDH, họ khảo sát so sánh các quốc gia ở Châu Âu, châu Á.
Từ thế kỉ 20 đến đầu thập kỉ thế kỉ 21, tư vấn và hướng nghiệp gắn với hoạt động dạy học phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục. Ngoài bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, dạy học theo định hướng GDNN ở các nước đều xuất hiện các vấn đề chung về cả lí luận và thực tiễn cần làm rõ nhằm tìm ra con đường khả thi và hiệu quả cho hoạt động giáo dục định hướng nghề nghiệp. Các tác giả nước ngoài trên trong quá trình bàn về GDNN cấp trung học đều khẳng định: “Quản lý dạy học theo định hướng GDNN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý dạy học theo định hướng GDNN” [47, tr. Nội dung quản lý dạy học theo định hướng GDNN là xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động dạy học bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình dạy học theo định hướng GDNN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ HĐDH theo định hướng GDNN.
Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý dạy học theo định hướng GDNN chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động dạy học theo định hướng GDNN ở các trung tâm GDTX. GDTHPT (giáo dục trung học phổ thông) hay Trung tâm GDTX (Trung tâm giáo dục thường xuyên) là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình con đường 7 bước vào cuộc sống lao động thực sự. Hướng nghiệp tạo điều kiện cho mỗi HS chọn một trong nhiều con đường khác nhau. Các hệ thống giáo dục cần phải được thiết kế linh hoạt để tính đến sự khác biệt của mỗi cá nhân trong việc tổ chức các mô hình học tập, tạo cầu nối cho những người bị gián đoạn học tập có thể trở lại học theo hình thức chính qui hoặc vừa làm vừa học.
Việc lựa chọn con đường riêng biệt của giáo dục nghề hay giáo dục phổ thông cần phải dựa trên những đánh giá thận trọng về những điểm mạnh và điểm yếu của HS. Nói cách khác, GDNN đòi hỏi sự đánh giá dựa trên sự kết hợp những tiêu chí vế giáo dục và dự báo về nhân cách tương lai của HS. Vì vậy, cần phải có những nhà tư vấn GDNN chuyên môn để giúp HS lựa chọn ngành nghề phù hợp (có tính đến nhu cầu của thị trường lao động), dự báo những khó khăn trong học tập và giúp giải quyết những vấn đề xã hội khi cần thiết. Ở Anh, mô hình DOTS gồm khung cơ bản của giáo dục nghề nghiệp (Mc.
Cash, 2006), được xác định theo 4 mục đích: học quyết định, nhận thức cơ hội, học chuyển đổi và tự nhận thức. Ông đã miêu tả một số ý kiến khung gắn kết với nhau, các ý kiến đó gồm SeSiFuUn với kết quả của nhận thức, chọn lọc và hiểu biết và CPI gồm các lứa tuổi, quá trình, ảnh hưởng. “Các quốc gia Bắc Âu đều có cùng mục tiêu hoặc kết quả học tập (mô hình DOTS). Tuy nhiên nhấn mạnh về sự khác biệt, theo Plant (2003), phần nhận thức cơ hội được nhấn mạnh nhất, tiếp đến là tự nhận thức, học quyết định và học chuyển đổi ít được quan tâm hơn” [45, tr.66] Quan tâm đến môn học tự chọn sau bậc học THPT : Ngày nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực (NNL) là yếu tố cơ bản, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia.
Nhờ có sự đầu tư và phát triển cho NNL mà một số nước chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc,…Giáo dục và đào tạo, trong đó có dạy học định hướng theo GDNN góp phần hết sức to lớn trong việc phát triển NNL cho đất nước. Các cơ sở GDNN trong cả nước đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp một lực lượng lao đông đảo đã qua đào tạo, góp phần làm cho cơ cấu lao động xã hội, cả về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền phù hợp với từng giai 8 đoạn phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tại các nước phát triển, luôn coi trọng lực lượng lao động là “lao động tri thức”, trước đây kĩ năng nghề có thể giúp con người đi theo suốt cuộc đời, nhưng thời đại ngày nay, luôn phải cập nhật tri thức mới, kiến thức mới để đáp ứng yêu cầu xã hội. Giáo dục thường xuyên, hoạt động dạy học định hướng GDNN có vai trò rất quan trọng giúp con người có điều kiện hướng đến đào tạo lao động tri thức và tự đào tạo suốt đời” [44, tr26].
Những nghiên cứu ở trong nước Theo tác giả Đặng Danh Ánh, dưới góc độ tâm lý học, “.hướng nghiệp giờ đây không chỉ gắn với khâu chọn nghề của HS trường phổ thông mà còn gắn với khâu thích ứng nghề ở bất kỳ trường chuyên nghiệp nào (doanh nghiệp, TCCN, CĐ, ĐH) và tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, nơi các em đến làm việc sau khi đã tốt nghiệp. Như vậy, hoạt động GDNN không chỉ được tiến hành ở tất cả các loại trường học mà còn thực hiện trong HĐDH ở các cơ quan, các cơ sở sản xuất kinh doanh; không chỉ tiến hành với thế hệ trẻ mà còn tiến hành với cả những người lớn tuổi không có nghề nghiệp hoặc vì lý do nào đó họ phải thay đổi nghề, lúc đó phải hướng nghiệp lại lần thứ hai, lần thứ ba. Nói cách khác, GDNN được bắt đầu từ khi HS đến trường (trọng tâm là THCS, THPT) đến khi các em có một ngành nghề trong tay” [1,Tr. Trong cách tiếp cận này, ông cho rằng: “Mục tiêu chủ yếu của dạy học theo định hướng GDNN là phát hiện và bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình, hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn bị cho học sinh sự sẵn sàng tâm lý đi vào những nghề mà có thành phần kinh tế đang cần nhân lực, trên cơ sở bảo đảm của sự phù hợp nghề.
Không có sự phù hợp nghề thì không thể nói tới sự sẵn sàng tâm lý được. Và như vậy, hoạt động GDNN phải được tiến hành qua 4 giai đoạn: giáo dục nghề nghiệp, tư vấn nghề nghiệp, tuyển chọn nghề nghiệp, thích ứng nghề nghiệp. Trách nhiệm chính ở hai giai đoạn đầu là Trung tâm GDTX, còn hai giai đoạn cuối là trách nhiệm của Trung tâm GDTX và doanh nghiệp, TCCN, CĐ, ĐH. Nhưng các trường ĐH và TCCN phải giúp HS phổ thông làm tốt hoạt động hướng nghiệp, đây là chưa nói tới trách nhiệm của toàn xã hội” [17,Tr.14] Theo các tác giả Trần Trọng Thủy, nếu xét về nội dung và mục đích dạy học theo định hướng GDNN là “một hệ thống công tác giảng dạy, giáo dục được tổ 9 chức một cách đặc biệt, nhằm hình thành ở HS một xu hướng nghề nghiệp có tính đến nhu cầu của xã hội, trên cơ sở đó mà xác định nghề nghiệp của mình” [47, Tr.
Trong quan điểm này, các tác giả nhấn mạnh toàn bộ hoạt động dạy học theo định hướng GDNN phải làm sao giúp cho HS khi học phải tự giác đi đến quyết định chọn nghề một cách có căn cứ, tức chọn nghề trên cơ sở tính đến ba mặt: nguyện vọng, năng lực của cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và những yêu cầu của xã hội. “Dạy học theo định hướng GDNN nói riêng và HS nói chung chỉ có hiệu quả khi phối hợp tốt ba hình thức hướng nghiệp” [17]. Và trong toàn bộ hoạt động hướng nghiệp, hoạt động tư vấn nghề có vai trò quan trọng bậc nhất. Bởi chỉ qua tư vấn, người GV có thể tác động nhằm điều chỉnh, uốn nắn động cơ chọn nghề của HS, sao cho không chỉ phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của các em mà còn “ăn khớp” với nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế, “ăn khớp” với các hướng phân luồng đã được nhà nước định ra ở từng giai đoạn phát triển kinh tế của xã hội đó.
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Bích Loan với nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh THPT khu vực nông thôn đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam” [33, tr.24] đã xây dựng cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh THPT, GDTX ở khu vực nông thôn, miền núi phía Bắc trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đã phân tích rõ vai trò, ý nghĩa của công tác giáo dục hướng nghiệp trong Trung tâm GDTX cho HS bậc THPT, cũng như tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của HS. - “Biện pháp quản lý dạy học ở trường THPT Trần Phú, thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Trần Thị Thanh Mai (2008). - “Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường THPT huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng” của tác giả Đỗ Thị Thuý Vinh (2008).