phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học của Phòng GD&ĐT đối với các trường THCS. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học của Phòng GD&ĐT đối với các trường THCS ở huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc. Chƣơng 3: Những biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Phòng GD&ĐT đối với các trường THCS ở huyện Sông Lô tỉnh Vĩnh Phúc. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan các nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Trong thời đại khoa học và công nghệ ngày nay, với nền kinh tế tri thức, tiềm năng trí tuệ đã trở thành nền móng và động lực cho sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Hầu hết các quốc gia đều nhận thấy vai trò to lớn của GD&ĐT đối với sự phát triển KT-XH của quốc gia mình, coi nó là nhân tố quyết định sự thành bại của mỗi quốc gia. Với sự phát triển thành công của nhiều quốc gia trên thế giới về tốc độ tăng trưởng KT-XH đã chứng minh một thực tế và khẳng định vai trò của GD&ĐT như là yếu tố quyết định đến sự tồn vong và phát triển của một quốc gia.
Ngay từ thời Cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) - Ông tổ của Nho giáo, nhà giáo dục lỗi lạc của Trung Quốc đã cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, vững mạnh thì người QL (Quân vương) cần chú trong đến ba yếu tố: Thứ (dân đông); Phú (dân giàu); Giáo (dân được giáo dục) Như vậy, giáo dục là cần thiết cho mọi người “Hữu giáo vô loại”. Về phương pháp giáo dục, ông coi trọng việc tự học, tự tu luyện, phát huy tính tích cực sáng tạo, năng lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá biệt hóa đối tượng, kết hợp học với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, phát triển động cơ, hứng thú, ý chí của người học. Nhìn chung cho đến nay, những giá trị tiến bộ về phương pháp giáo dục của Khổng Tử vẫn là những bài học lớn cho các nhà trường và cán bộ QL trong công tác QL của mình. Nhật Bản là quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, lại là nước bị bại trận trong chiến tranh thế giới lần thứ hai nhưng Nhật Bản đã mau chóng phát triển và trở thành một trong những cường quốc hàng đầu về kinh tế trên thế giới.
Tại sao Nhật bản lại phát triển nhanh như vậy? Một trong những nguyên nhân giúp Nhật Bản phát triển nhanh đó là do họ sớm nhận thức vai trò quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước. Với điều kiện thiếu thốn về tài 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên thiên nhiên, bại trận trong chiến tranh thế giới hai nhưng ngay từ năm 1946 Nhật Bản đã đầu tư rất lớn cho giáo dục với 28% ngân sách và cho đến những năm 50 họ tiếp tục đầu tư cho giáo dục lên mỗi năm 1% cho đến 32% ngân sách cho giáo dục và ổn định từ đó cho đến nay mà chưa nước nào trên thế giới có thể làm được điều đó. Trong nước Trong tiến trình lãnh đạo, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự nghiệp GD&ĐT. Sự quan tâm này thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhất là trong việc xác định vị trí, vai trò của GD&ĐT ở từng thời kỳ cách mạng.
Đặc biệt trong thời kỳ đổi mới của cách mạng nước ta hiện nay, Đảng ta đã và đang tiếp tục khẳng định rõ hơn vai trò to lớn của GD&ĐT đối với sự phát triển KT- XH. Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993) xác định: GD&ĐT cùng Khoa học - Công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đầu tư cho GD&ĐT là đầu tư phát triển [28]. Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996) nhấn mạnh: Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu [29].
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X về vấn đề định hướng phát triển ngành, lĩnh vực đã chỉ rõ về GD&ĐT: “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế QL để tạo ra sự chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà… ưu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lượng dạy và học” [11]. Văn kiện cũng chỉ rõ: “Phát triển mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động khoa học - công nghệ với GD&ĐT để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực thúc đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức. Thống nhất định hướng giữa phát triển khoa học và công nghệ với chiến lược GD&ĐT, phát huy quan hệ tương tác thúc đẩy lẫn nhau giữa hai lĩnh vực quốc sách hàng đầu này” [11]. Trong những năm vừa qua, hoạt động dạy học và QL hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Sông Lô đã đạt được những kết quả nhất định song còn nhiều hạn chế, bất cập do những nguyên nhân khác nhau.
Vì vậy, cần có 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những biện pháp QL hoạt động dạy học hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THCS huyện Sông Lô. QL hoạt động dạy học là một vấn đề bức xúc mới chỉ được nghiên cứu ở những cấp độ hẹp và hiện đang được tiếp tục nghiên cứu nhằm đưa ra bức tranh tổng thể cho việc QL hoạt động dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học, chất lượng giáo dục. Một số giáo trình của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện QL Giáo dục đã bàn đến việc QL hoạt động dạy học. Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành QL Giáo dục cũng có một số tác giả đề cập đến vấn đề này, nhưng chỉ mang tính định hướng và khu vực ở các trường phổ thông như: Biện pháp QL hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS trên địa bàn huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay của tác giả Lê Văn Sơn [27]; Biện pháp QL hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường THCS quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng của tác giả Mai Đức Hưng [23] v.v…chưa có ai đề cập đến việc QL hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Sông Lô.
Mặt khác, nhìn chung các luận văn thạc sĩ chuyên ngành QL Giáo dục tập trung vào biện pháp QL hoạt động dạy học của Hiệu trưởng các trường THCS, chưa có ai đề cập đến biện pháp QL của Phòng GD&ĐT đối với hoạt động dạy học ở các trường THCS. Cho nên, vấn đề chúng tôi nghiên cứu ở luận văn này là khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động dạy học và công tác QL hoạt động dạy học ở các trường THCS huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc và đề xuất một số biện pháp QL của Phòng GD&ĐT đối với hoạt động dạy học ở các trường THCS nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học của các nhà trường. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý QL là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động.
Theo nghĩa rộng, QL là hoạt động có mục đích của con người. Cho đến nay, về cơ bản mọi người đều cho rằng: QL chính là các hoạt động do một 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn [8]. Từ khi xuất hiện nền sản xuất xã hội, các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội ngày càng tăng lên thì sự phối hợp các hoạt động riêng rẽ càng tăng lên. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và đều phải thừa nhận và chịu một sự QL nào đó.Mác đã viết: “ Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.Mác đã lột tả được bản chất của QL là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển loài người. QL trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Ngày nay, thuật ngữ QL đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất, tùy theo quan điểm tiếp cận khác nhau mà các tác giả đưa ra các định nghĩa khác nhau.
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “QL là một quá trình tác động có định hướng, có chủ đích, tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định”. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể QL đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [16]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu; QL là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn” [22].