Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học ở trưởng trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý của hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông Vân Nham, huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn. Chương 3: Một số biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường trung học phổ thông Vân Nham, huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu của vấn đề QL HĐDH ở các trường THPT là một vấn đề được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả xin trình bày sơ lược một số nội dung chủ yếu sau đây. Ở Việt Nam, các nhà GD học, các CBQL GD và các nhà sư phạm cũng luôn quan tâm nghiên cứu tìm ra các giải pháp QL HĐDH có tính khả thi và hiệu quả cao để thực hiện thành công mục tiêu GD. Ngay từ những năm ở thập kỷ 70 của thế kỷ XX, các giáo sư: Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Minh Đức, Hà Thế Ngữ, Hà Sĩ Hồ.
đã có nhiều tác phẩm nghiên cứu về QLGD, QL trường học trong hoàn cảnh thực tế ở Việt Nam. Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề về QLGD. Trong phạm vi QL dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Minh Đạo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Trần Thị Bích Liễu,. ở các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc QL dạy học, từ đó đưa ra các giải pháp QL vận dụng trong QL dạy học là nhiệm vụ trung tâm của HT trong việc thực hiện mục tiêu GD&ĐT.
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê thì trong QLGD phải chú ý đến công tác bồi dưỡng GV về tư tưởng chính trị, về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao năng lực cho họ. Tác giả Trần Thị Bích Liễu nhấn mạnh đến những yêu cầu đối với công tác QL nhà trường trong những điều kiện mới: "Đổi mới chương trình sách giáo khoa đòi hỏi đổi mới phương pháp QL và lãnh đạo của HT sao cho phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của các thành viên trong trường". Từ những năm cuối thế kỷ XX ở Việt Nam, xuất hiện ngày càng nhiều các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về đề tài QL HĐDH của HT trường phổ thông. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong các luận văn này, các tác giả đã khảo sát thực trạng và đề xuất các giải pháp QL dạy học của HT trường THPT.
Mặc dù đã có nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về đề tài QL dạy học của HT các trường ở hệ thống GD phổ thông, nhưng vẫn chưa có nhiều tác giả nghiên cứu mang tính hệ thống về đề tài này ở bậc THPT, nhất là trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn, một tỉnh biên giới, miền núi phía Đông Bắc của Tổ quốc. Bởi vậy tác giả chọn nghiên cứu vấn đề này, với nguyện vọng góp một phần trí tuệ nhỏ bé vào việc thúc đẩy sự phát triển GD THPT của huyện nhà. Các khái niệm cơ bản 1. Quản lý QL là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người QL, tổ chức QL) lên khách thể (đối tượng QL) về các mặt chính trị, văn hoá, XH, kinh tế.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng QL có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người, sự vật cụ thể. QL thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính,. để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước.
Chủ thể muốn kết hợp được các HĐ của đối tượng theo một định hướng QL đặt ra phải tạo ra được ''quyền uy'' buộc đối tượng phải tuân thủ. QL nền sản xuất - XH là loại hình QL đặc biệt phát sinh từ tính chất XH hoá lao động. Mác viết: ''Tất cả mọi lao động XH trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng''.2] Các nhà lý luận QL quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856- 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Max Weber (1864-1920), Đức 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đều đã khẳng định: QL là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển XH.
Về nội dung, thuật ngữ ''Quản lý'' có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong giáo trình Khoa học QL (Tập 1. NXB Khoa học kỹ thuật. 1999) đã ghi rõ: "QL là các HĐ được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
QL là công tác phối hợp có hiệu quả các HĐ của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức. QL là một HĐ thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. QL là sự có trách nhiệm về một cái gì đó ." Có tác giả lại quan niệm: QL là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu KT-XH. QL là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định.
QL là sự tác động có mục đích, có KH của chủ thể QL đến khách thể QL (mà trực tiếp là tập thể những người lao động) nhằm thực hiện mục tiêu đề ra. QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên đối tượng QL và khách thể QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, QL phải bao gồm các yếu tố sau: - Phải có ít nhất một chủ thể QL là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị QL tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể QL tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể QL. Tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần.
- Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động. - Tác động của chủ thể phải có KH và có tính mục đích. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức XH). Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự QL và có người QL để tổ chức HĐ và đạt được mục đích của mình.
Hoạt động QL (theo định nghĩa kinh điển nhất) là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Hiện nay, QL thường được định nghĩa rõ hơn: QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các HĐ (chức năng) KH hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra. Như vậy, có thể khái quát: QL là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình XH và hành vi HĐ của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra. Sự tác động của QL phải bằng cách nào đó để người bị QL luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả XH.
QL là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và XH nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý và XH học. Nó còn là một ''nghệ thuật'' đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao để đạt tới mục đích. Quản lý giáo dục GD là một dạng HĐ đặc biệt có nguồn gốc từ XH. Bản chất của HĐ GD là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – XH của các thế hệ loài người, nhờ có GD mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển.48] QLGD đã được các nhà lý luận và QL thực tiễn đưa ra một số định nghĩa dưới các góc độ khác nhau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: ''QLGD theo nghĩa tổng quan là HĐ điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH''.
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển GD thường xuyên, công tác GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là GD thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, các trường trong hệ thống GD quốc dân. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: ''QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có KH, hợp qui luật của chủ thể QL nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XH chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – GD thế hệ trẻ, đưa hệ GD tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất''.