CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan Trong lịch sử phát triển của loài người, việc truyền bá kinh nghiệm lịch sử của thế hệ trước cho thế hệ sau luôn được diễn ra với muôn hình muôn vẻ, với nhiều hình thức và cách thức khác nhau. Nhu cầu học tập của con người không ngừng tăng lên, tỷ lệ với đời sống kinh tế. Việc học tập diễn ra với nhiều hình thức phong phú , đa dạng.
Học trong nhà trường, ngoài nhà trường, chính quy, không chính quy, học trên lớp, học ở nhà, học thêm…Đi kèm theo đó là việc quản lý hoạt động dạy học. Việc nâng cao chất lượng dạy và học nói chung trong các nhà trường phổ thông từ lâu đã được nhiều nhà khoa học nhiều nhà sư phạm trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Nhà nghiên cứu về quản lý giáo dục Nga V.A Khuđôminki đã tổng kết những thành công, thất bại của mình trong hơn 25 năm làm Hiệu trưởng cùng với nhiều tác giả đã đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học ở trường THPT. Đó là sự phân công hợp lý trong Ban giám hiệu; xây dựng và bồi dưỡng giáo viên; tổ chức hội thảo khoa học… Ở Viêt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học.
Có thể kể đến là công trình của các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn ngọc Quang, Nguyễn Văn Lê, …Các công trình này đóng góp to lớn về mặt lý luận. Nhưng vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong các nhà trường nói chung, ở trường THPT nói riêng chưa được đề cập cụ thể. Có những những bài phát biểu phỏng vấn của các nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý, cha mẹ học sinh trên các phương tiện truyền thông ( ti vi, báo, đài …) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trao đổi về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học trong các nhà trường phổ thông. Một số nghiên cứu trong các luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến công tác quản lý chuyên môn trong các nhà trường phổ thông.
Những đề tài này đã nêu ra được cơ sở luận của việc quản lý chuyên môn và đề xuất được một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở một số cơ sở giáo dục áp dụng cho cơ sở đó. Những nghiên cứu đã giúp cho việc hoạt động dạy học và quản lý dạy học có thêm cơ sở lý luận và những kinh nghiệm quý báu. Tuy nhiên ở một cơ sở giáo dục cụ thể, trong một bối cảnh cụ thể, ngoài những điểm chung còn mang tính đặc thù nên cần phải có những biện pháp cụ thể riêng và áp dụng các biện pháp một cách linh hoạt hài hòa thì việc quản lý hoạt động dạy học mới có thể thu được hiệu quả cao. Ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Hải Dương có rất ít bài viết nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học.Trong phạm vi trường THPT Hồng Quang chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề lý luận và biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, đặc biêt là trong bối cảnh hiện nay.
Đó là những vấn đề còn thiếu mà tác giả muốn đề cập đến trong luận văn này. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Hoạt động dạy học 1. Hoạt động dạy Đó là hoạt động mà chủ thể là người thày.
Hoạt động dạy là hoạt động của người thày. Quan niệm kinh nghiệm chủ nghĩa cho rằng, dạy là sự truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo từ phía người thày (người đã biết) lên người học để giúp người học hiểu biết được những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đó. Đồng thời giúp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người học phát triển năng lực trí tuệ, hoàn thiện phẩm chất và năng lực khác (nhân cách). Quan niệm khoa học, dựa trên nghiên cứu khoa học kết hợp với tâm lý học đã chỉ ra rằng dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nhờ đó thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ dạy học.
Điều đó cũng có nghĩa hoạt động dạy là hoạt động của người thày điều khiển quá trình học, giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng. nhằm hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Dạy có hai chức năng là truyền đạt thông tin dạy học và điều khiển hoạt động dạy học. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy học được thể hiện qua việc tổ chức, điều khiển hoạt động học của học sinh, giúp học sinh nắm được kiến thức, kỹ năng, hình thành thái độ.
Hoạt động dạy học có chức năng là truyền đạt và điều khiển. Để đạt được mục tiêu dạy học người thày phải xác định được nội dung chương trình, lựa chọn phương pháp, tìm kiếm các hình thức, phương tiện phù hợp. Hoạt động học Đó là hoạt động mà chủ thể là người học (học sinh). Hoạt động học của học sinh (HS) dưới sự hướng dẫn, tổ chức của người thày.
Người học tự giác, tích cực, chủ động để phát hiện, lĩnh hội tri thức, kỹ năng. nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách. Cũng như hoạt động dạy, hoạt động học cũng có hai chức năng là lĩnh hội và tự điều khiển. Nội dung của hoạt động học gồm toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, bằng phương pháp nhận thức tích cực, phương pháp tư duy để chiếm lĩnh tri thức khoa học; nhằm phát triển tư duy, năng lực hoạt động và hình thành thái độ, đạo đức, nhân cách, lý tưởng sống.
Như vậy hoạt động học có bản chất là hoạt động nhận thức tích cực, hoạt động tư duy chứ không phải hoạt động ghi nhớ. Quan hệ giữa “Dạy và Học” Trong quá trình dạy học thì hoạt động dạy và hoạt động học có mối liên hệ thống nhất biện chứng. Đây là quy luật cơ bản của “Dạy và Học”. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước hết, đó là quan hệ thống nhất vì “Dạy và Học” hợp thành một chỉnh thể.
Rõ ràng không có hoạt động học thì không thể có hoạt động dạy và ngược lại. “Dạy và Học” là quan hệ biện chứng giữa hai mặt đối lập. Đó là quan hệ lấy hoạt động này làm tiền đề cho hoạt động kia. Hoạt động dạy học đã cho thấy, trong học đã có vai trò dạy (hay hoạt động học chỉ diễn ra nếu có hoạt động dạy đóng vai trò xúc tác).
Trong hoạt động học, người học là chủ thể; dạy là xúc tác nhưng không thể thiếu. Quan hệ giữa “Dạy và Học” là quan hệ tương tác, cộng tác, phối hợp. theo đúng chức năng, thành phần riêng. Trong dạy học, hoạt động học là trung tâm nhưng không thể thiếu vai trò của người thày trong việc tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động học tập.
Như vậy, trong quá trình dạy học, quan hệ giữa thày và trò là vấn đề quan trọng và phức tạp. Quá trình dạy học có hiệu quả cao hay không phụ thuộc vào cách tổ chức, điều khiển (lựa chọn phương pháp, phương tiện) của thày và sự chủ động, sáng tạo của trò trong sự tiếp nhận kiến thức, hình thành kỹ năng, thái độ. Đó cũng là lý do mà trong thời gian gần đây các nhà sư phạm luôn chú ý đến việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát huy tính tự giác, tích cực, độc lập sáng tạo của trò giúp nâng cao hiệu quả của việc dạy học. Dạy học là con đường ngắn nhất giúp học sinh phát hiện, lĩnh hội tri thức mới, phát triển tư duy độc lập, sáng tạo và hoàn thiện nhân cách.
Do đó, có thể nói rằng hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động khác trong nhà trường. Tuy nhiên, quá trình dạy học (QTDH) luôn vận động và phát triển không ngừng, được chi phối bởi những quy luật nhất định. Đó là quy luật tâm lý nhận thức, xã hội học và những mối liên hệ bên trong của QTDH (tính thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy và hoạt động học giữa mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học). Do đó cần nắm giữ được các quy luật dạy học và các nguyên tắc dạy học thì QTDH mới đạt được hiệu quả.
Dạy học (DH) cần thực hiện tốt các nhiệm vụ chính. Đó là tổ chức điều khiển người học hình thành hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo phù hợp với thực tiễn đất 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước, con người Việt Nam. Đồng thời trên cơ sở đó hình thành cho người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng. Đó là tổ chức điều khiển người học hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, các phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, phát triển thể lực.
Đó là tổ chức điều khiển người học hình thành thế giới quan nhân sinh quan và phẩm chất người công dân, người lao động theo đúng mục tiêu giáo dục toàn diện trí, đức, thể, mỹ và các kỹ năng cơ bản khác. Quản lý Quản lý (QL) là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Quản lý có những đặc điểm cơ bản: *. Quản lý bao giờ cũng phân chia chủ thể quản lý và khách thể quản lý để rõ trên dưới, mệnh lệnh, phục tùng đó là nguyên tắc tập trung dân chủ (mọi người được bàn).
Hiện nay mối quan hệ này chuyển sang sự “cộng tác lẫn nhau” cùng chí hướng. Quản lý liên quan tới trao đổi thông tin (truyền đạt thông tin và thông tin phản hồi) nếu nghẽn ở đây đó thì không thông suốt, không đạt yêu cầu đặt ra). VD: Mọi thông tin, pháp luật từ trên xuống không rõ không được phản hồi nên những người vi phạm pháp luật nhiều. Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (phải luôn luôn điều chỉnh để phù hợp với hoàn cảnh của mình).
Tuy nhiên không được lạm dụng thích nghi. VD: đặt ra chỉ tiêu quá cao, trong quá trình thực hiện không đạt được, điều chỉnh nhiều lần làm mất niềm tin). Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật - Nghệ thuật: đi trước, về sau, hưởng lợi sau. - Khoa học: có kế hoạch, tổ chức chỉ đạo kiểm tra.
Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.