Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực là một trong những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của một cơ sở giáo dục. Đã có nhiều tác giả, các nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến lý luận dạy học, phương pháp dạy học,. Nhà sư phạm vĩ đại J.Comenxki (1 92-1670) đã đưa ra những yêu cầu cải tổ nền GD theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học.Theo ông, dạy học thế nào để người học thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức.
Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”. Ông còn viết: “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…Hãy tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS học được nhiều hơn”. Trong thế kỷ XX, John Dewey (18 9 – 19 2) là một trong những nhà nhà triết học lớn nhất nước Mỹ nửa đầu thế kỉ XX, đồng thời là nhà tâm lý học, nhà giáo dục vĩ đại, đã có đóng góp lớn lao vào công cuộc cải cách giáo dục của nhân loại. Tư tưởng triết học và sự nghiệp giáo dục đồ sộ của John Dewey đã có ảnh hưởng to lớn làm thay đổi nền giáo dục Mỹ suốt thế kỷ XX và sang cả thế kỷ XXI.
John Dewey đã dành trọn cuộc đời của mình cho sự nghiệp xây dựng một nền giáo dục dân chủ, vì sự tiến bộ của người học, vì lợi ích to lớn của con người, vì sự phát huy tài năng, trí tuệ, đạo đức nơi mỗi cá nhân con người, nhằm xây dựng cộng đồng xã hội thực sự tốt đẹp. Tư tưởng giáo dục của J.Dewey cho rằng: Trường học không đơn thuần là nơi người lớn dạy cho trẻ con các bài học kiến thức và bài học luân lý. Trường học phải là một cộng đồng dân chủ trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội. Do đó, giáo dục là một 6 hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai mơ hồ nào đấy.Nhà trường có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để cá nhân người học phát huy tối đa năng lực tiềm tàng của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng toàn bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân và đặc biệt là tư duy.
Tóm lại là người học có thể phát triển toàn vẹn mọi khả năng của mình để tham gia vào đời sống xã hội. Nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó khăn, để từ đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua “ kinh nghiệm” và “ tư duy”, thông qua “ trải nghiệm” của chính bản thân. Học sinh là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục. Học sinh phải liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường.
Giáo viên đóng vai trò là tác nhân quan trọng bậc nhất cho sự khai phóng của người học. Giáo viên không phải là một “quyền uy ban phát” kiến thức, không phải là một vị quan tòa mà là một thành viên trong cộng đồng lớp học. Giáo viên có nhiệm vụ là một tác nhân kích thích. ằng việc cung cấp vật liệu, đầu mối thông tin, gợi ý, tổ chức, hướng dẫn…giáo viên có thể tạo ra một môi trường khuyến khích sự học tập.
Muốn vậy, giáo viên phải là một chuyên gia được đào tạo tốt, một người hiểu biết giáo dục toàn diện. Nội dung của giáo dục phải phản ánh sự phát triển của loài người. Nội dung phải mang tính tăng tiến. Chương trình học phải hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người.
Phương pháp dạy học phải gắn chặt với đối tượng và nội dung. Phương pháp là phương pháp của năng lực và hứng thú của trẻ em, của cá nhân đang trưởng thành, chứ không phải là phương pháp của người lớn- những kẻ đã trưởng thành. Phương pháp là sự trình bày rõ ràng biện pháp triển khai nội dung của một kinh nghiệm đang diễn ra để nó đem lại hiệu quả và kết quả nhiều nhất. ởi vậy, không thể tách rời phương pháp khỏi nội dung.
[32] Jean Piaget (1896 – 1980), nhà Tâm lý học lỗi lạc người Thụy sỹ, dành cả cuộc đời nghiên cứu về sự phát triển nhận thức của trẻ em, thì cho rằng: Sự học tập chính là sự phát triển các “cấu trúc sơ khai”, là kết quả của một quá trình năng động tìm kiếm thế quân bình giữa chủ thể và môi trường thông qua quá trình “đồng hóa”. “điều tiết” và “thích nghi”. Trong quá trình ấy, chủ thể biến đổi các yếu tố của môi trường để có thể sáp nhập chúng vào cấu 7 trúc nhận thức của mình. Điều tiết (accommodation): khi vật thể hay tình huống cưỡng lại những “cấu trúc sơ khai” có sẵn của chủ thể (nó mới lạ so với khuôn khổ nhận thức đã có) thì cơ chế điều tiết ở trẻ làm việc, kéo theo sự biến đổi cấu trúc nhận thức của chủ thể theo cách cho phép nó sáp nhập các yếu tố là đối tượng của việc học tập.
Và như thế, chủ thể bị môi trường làm biến đổi và tiến hoá, hoàn thiện các “cấu trúc sơ khai” của mình. Tất cả quá trình thu nhận được/ học được những cái mới đều là kết quả sự điều phối giữa đồng hoá các yếu tố của môi trường vào các CTS đã có của chủ thể, đồng thời điều tiết các CTS ấy với các yếu tố mới của môi trường. Có lúc vế đồng hoá vượt trội, có lúc vế điều tiết vượt trội, có lúc hai vế cân bằng nhau, tạo ra sự đa dạng của các hình thức thu nhận. Nhìn một cách tổng quát, kết quả cuối cùng của quá trình đồng hoá- điều tiết là sự thích nghi (adaptation) của chủ thể với môi trường.
Hoạt động trí khôn chính là hình thức cao cấp của sự thích nghi ấy. Như vậy, muốn phát triển trí khôn, năng lực của trẻ em thì phải tạo môi trường có những kích thích mới lạ so với khuôn mẫu nhận thức đã có của trẻ và để trẻ được tự chủ trong việc tiếp nhận cái mới thông qua quá trình đồng hóa, điều tiết, cuối cùng là thích nghi được với môi trường.[31] Có thể nói: tư tưởng giáo dục của J. Piaget là đào tạo những người sáng tạo tương lai thay vì những kẻ tuân phục mô hình hiện hành có sẵn của người lớn tỏ ra đúng đắn trong bối cảnh xã hội ngày nay. Trong cuốn “Phát huy tính tích cực của HS thế nào”, I.
harlamốp đã khẳng định vai trò to lớn của tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu tri thức mới. Tác giả cho rằng: Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học thuộc bình thường các quy tắc, các kết luận khái quát quát hoá, nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích tính lôgíc sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học". Sự vận động không ngừng của đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi mới trong nội dung giáo dục và phương pháp giáo dục. hi nói về PPDH, cần nhấn mạnh đó là vấn đề được các nhà khoa học giáo dục trên toàn thế giới quan tâm.
Đó là các công trình nghiên cứu sâu sắc liên quan đến PPDH gắn với các tên tuổi của Piagiet, Lêônchiep, Đannhilốp, xipôp, Lecne, Babansky.Gần đây, một số nhà lý luận dạy học phương Tây như: Grôp- frây …đi sâu vào các kĩ thuật dạy học cụ thể. 8 Ở Việt Nam, các vấn đề có liên quan đến PPDH cũng rất được quan tâm, đặc biệt sau năm 1986 (được coi là mốc của đổi mới tư duy). Nhiều tác giả có các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: Phạm Minh Hạc, Nguyễn ỳ, Trần á Hoành, Trần iều, Nguyễn Hữu Chí, và một số các nhà giáo giàu kinh nghiệm cũng quan tâm đến vấn đề PPDH và phát triển lý luận dạy học chung vào thực tiễn dạy học ở Việt Nam: Văn Như Cương, Tôn Thân. Về quản lý đổi mới PPDH và quản lý chất lượng, hiệu quả dạy học phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Quách Tuấn Ngọc, Trần iểm, Trần iều, Trần á Hoành,.
luôn lấy người học làm trung tâm với ý tưởng cốt lõi là người học phải tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập. Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần nghị quyết TW 4 khoá VIII về GD-ĐT. Nghị quyết yêu cầu: “Đổi mới mạnh mẽ PPGD, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”. Nội dung này đã được thể hiện thành quy định pháp luật tại Luật giáo dục, trong đó có yêu cầu cơ bản là: (1) Nội dung GD phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, thiết thực, hiện đại và có hệ thống; (2) PPGD phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vân dụng kiến thức vào thực tiễn.
Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Đối với quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: Tài liệu “Cơ sở của khoa học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Minh Đạo; tài liệu “Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang; tài liệu “Quản lý, quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình” của tác giả Đặng Quốc ảo là những tài liệu mà trong đó trình bày về khái niệm quản lý, quản lý giáo dục và quản lý giáo dục được tiếp cận từ những mô hình, trong đó có đề cập đến dạy học theo định hướng phát triển năng lực.