CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2 ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu nước ngoài Theo quan điểm về giáo dục của một trong số các nước có nền giáo dục hiện đại, phát triển bậc nhất như Đan Mạch, với những tư duy hết sức đặc biệt về giáo dục như: Một giáo viên tốt phải có một loạt các năng lực chung, trong bất kể giai đoạn giáo dục nào. Bởi vậy, giáo viên ngoài việc cần phải có phương pháp nghiên cứu, phân tích Chương trình giáo dục phổ thông thì điều kiện hàng đầu để dạt chuẩn là phải hiểu được nội dung dạy học, để từ đó có thể lập cũng như đánh giá được tầm quan trọng của kế hoạch, nội dung giảng dạy, nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục ở các cấp độ khác nhau; điều này không chỉ có tính đến các khuôn khổ, điều kiện thực hiện, ở trong hiện tại mà còn vận dụng trong tương lai.
Spillane và các cộng sự (2001), các tác giả đã nêu rất rõ vai trò của hiệu trưởng nhà trường trong quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát triển năng lực đó chính là người lãnh đạo và tạo nên được sự thay đổi lớn trong các trường học. Đồng thời, vai trò của công tác quản lý đối với sự phát triển của nhà trường. Các nghiên cứu trong nước Từ lâu, Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò công cụ của tiếng Việt trong nhiều văn bản từ tiểu học đến THPT. Nhưng trên thực tế dường như tiếng Việt chỉ được chú ý tập trung cao độ ở cấp tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp.
Các lớp này nếu không biết đọc, biết viết thì không thể học lên cao hơn. Và do vậy, việc coi tiếng Việt như một công cụ, phương tiện là tất yếu, không có gì phải bàn cãi, tranh luận cả. Vấn đề chỉ xuất hiện khi học sinh càng học lên cao (THCS, THPT, ĐH,.) thì dường như tiếng Việt không được coi trọng nữa. Hầu hết mọi người bằng lòng với vốn tiếng Việt ở trình độ tối thiểu đã được trang bị ở Tiểu học cộng với bản năng tiếng mẹ đẻ của mình.
Càng lớn lên, họ càng cảm thấy không cần học tiếng Việt nữa cũng được, miễn 6 là đọc được, viết được tiếng Việt. Tình trạng cứ nhìn vào mặt chữ trên trang giấy đọc được ra tiếng Việt là coi như đã biết đọc, đã hiểu văn bản,. khá phổ biến. Trong khi cuộc sống, khoa học – công nghệ vẫn phát triển liên tục, mạnh mẽ.
Để giao tiếp có hiệu quả trong thế giới hiện đại, các kỹ năng ngôn ngữ cần được trang bị và rèn luyện liên tục, không ngừng nghỉ. Chính cuộc sống hiện đại đòi hỏi chương trình giáo dục nhiều nước phải bổ sung thêm các kỹ năng mới, ngoài 4 kỹ năng cơ bản (đọc, nghe, nói, viết) cần có thêm nhìn/quan sát (viewing) và trình bày (presenting). Theo tác giả Bùi Mạnh Hùng (2014) đã phác thảo những đề xuất nhằm đổi mới căn bản và toàn diện chương trình giáo dục như mục tiêu môn học, nội dung, phương pháp dạy học và xếp loại đánh giá kết quả học tập. Các nội dung chính yếu theo đề xuất của tác giả gồm: đặc trưng của môn học; mục tiêu giáo dục; nội dung; phương pháp dạy học; đánh giá tập trung chủ yếu vào đánh giá năng lực đọc, viết, nói, nghe và năng lực tư duy của học sinh, phù hợp với hệ thống chuẩn cần đạt, đặt ra trong bài học ở từng lớp.
Tác giả Nguyễn Thu Hà (2014), cho rằng giảng dạy theo năng lực là hướng phát triển tập trung vào đầu ra của quá trình dạy và học, trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một chương trình giáo dục: Xây dựng các tiêu chuẩn đầu ra thể hiện rõ mục tiêu của giáo dục, thiết lập được các điều kiện và cơ hội để khuyến khích người học có thể đạt được các mục tiêu ấy. Tác giả Hoàng Tuyết Minh (2017), nghiên cứu đề tài “Quản lí dạy học theo tiếp cận năng lực ở trường Tiểu học trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” (Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 – 2017) thì tác giả đã nêu rõ được sự khác biệt trong tiếp cận năng lực so với các cách thức tiếp cận khác trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học, phân tích thực tiễn triển khai ở các trường Tiểu học quận Hà Đông, Hà Nội. Nguyễn Thị Hồng Vân (2017), có bài viết “Phát triển một số năng lực chung trong Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn” (Tạp chí Khoa học giáo dục Việt Nam số 143 – 2017), tác giả đã nêu các năng lực chung trong chương trình Ngữ 7 văn như: năng lực tự học và tự chủ, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề. Tác giả đã đề xuất việc phát triển năng lực giao tiếp trong môn học Ngữ văn gồm các kỹ năng thành phần và 15 chỉ số hành vi của năng lực giao tiếp.
Ngoài ra, đề xuất khung dạy học phát triển năng lực của học sinh vào các môn học và đặc biệt trong nghiên cứu còn chỉ ra mức độ năng lực giao tiếp cho học sinh ở các cấp học. Theo quy định của pháp luật, cụ thể tại thông tư số 32/2018/TT – BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Chương trình giáo dục phổ thông xác định rất rõ: “Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; kế thừa và phát triển những ưu điểm của các Chương trình giáo dục phổ thông đã có của Việt Nam, đồng thời tiếp thu thành tựu nghiên cứu về khoa học giáo dục và kinh nghiệm xây dựng chương trình theo mô hình phát triển năng lực của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước, những tiến bộ của thời đại về khoa học - công nghệ và xã hội; phù hợp với đặc điểm con người, văn hoá Việt Nam, các giá trị truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển chung của UNESCO về giáo dục; tạo cơ hội bình đẳng về quyền được bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh”. Tác giả Đỗ Việt Hùng và các tác giả (2020), tài liệu viết về “Dạy – học Tiếng Việt trong nhà trường theo hướng phát triển năng lực” (ĐH Sư phạm Hà Nội - 2020), tác giả tán đồng quan điểm xây dựng và phát triển Chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Qua một số nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt học sinh ở các trường Tiểu học đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018, các tác giả đã khẳng định sự cần thiết phải quan tâm đến hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh, các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt.
Ngoài ra, các nghiên cứu đều chưa hề đề cập đến công tác quản lý hoạt động này. Do đó, việc nghiên cứu 8 đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 ở các trường Tiểu học quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018” nhằm đổi mới nội dung phù hợp với điều kiện hiện nay của đất nước và xu thế hội nhập Quốc tế là đề tài có ý nghĩa thực tiễn và tính mới. Khái niệm về quản lý, quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt lớp 2 đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông 2018 1. Khái niệm về quản lý Có rất nhiều quan điểm, khái niệm khác nhai về quản lý, có thể kể đế bn một vài tác giả đã nghiên cứu, đưa ra định nghĩa trong các sản phẩm nghiên cứu của mình như sau: Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra”.
Tác giả Vũ Dũng đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó”. Theo tác giả Harol Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác”. Tổng hợp lại ta có thể thấy, quản lý được coi là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung hay nói một cách khác, quản lý là sử dụng một số biện pháp nhất định để một nhóm người (tập thể người) có liên quan với nhau về một hoạt động nào đó nhằm đưa hoạt động ấy hướng đến một mục tiêu chung.
Khái niệm quản lý hoạt động dạy học Trong cuộc sống, tất cả các lĩnh vực đều cần có sự quản lý để đảm bảo trật tự, đảm bảo các hoạt động được nề nếp và quan trọng đưa một nhóm, chuỗi hoạt động, con người đạt được một mục tiêu chung nào đó. Trong hoạt động giảng dạy cũng vậy, quản lý hoạt động dạy học thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá 9 trình dạy học nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường. Đây là một trong những công việc quan trọng nhất trong công tác quản lý nhà trường bởi giảng dạy chính là công tác trọng tâm và là mục tiêu hướng đến của mọi cơ sở giáo dục. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là nội dung, là cách thức mà chủ thể quản lý cần cụ thể hoá để thực hiện các chức năng quản lý giáo dục và mục tiêu quản lý giáo dục.
Trong quá trình dạy học, các yếu tố mục đích, nội dung, phương pháp, tổ chức, phương tiện dạy học,… luôn vận động và kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò.