Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành ở trường đại học. + Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành ở trường Đại học Duy Tân. + Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành ở trường Đại học Duy Tân. - Kết luận và khuyến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ DỊCH VỤ DU LỊCH VÀ LỮ HÀNH Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Quản lý hoạt động đào tạo ở các trường đại học được các nhà nghiên cứu nước ngoài tiếp cận và nhu cầu người học theo những cách tiếp cận, đánh giá ở nhiều mức độ, công trình nghiên cứu khoa học rất khác nhau. Quản lý hoạt động đào tạo là hoạt động thiết yếu có ý nghĩa rất quan trọng nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục nói chung và các trường đại học nói riêng. Quản lý hoạt động đào tạo cũng giống như quản lý các hoạt động khác đều phải tuân thủ những nguyên lý chung, các chức năng chung của quản lý như: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều hành phối hợp và kiểm tra kiểm soát.
Việc nghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu các nguyên lý quản lý nói chung ở nhiều công trình nghiên cứu khác nhau ngoài nước do các nhà lý luận quốc tế nghiên cứu, có thể kể đến: Max Weber (1864-1920), Đức; Henri Fayol (1841-1925), Pháp; Feter F. Marzano, Koontz và O Donnell (Mỹ);. công trình tiêu biểu như: Tác giả Robert J. Marzano (2007), viết cuốn sách “The Art and Science of Teaching: A Comprehensive Framework for Effective Instruction” (Nghệ thuật và Khoa học giảng dạy: Một khuôn khổ toàn diện cho hướng dẫn hiệu quả), nghiên cứu chiến lược lớp học dựa trên khoa học và nghiên cứu.
Marzano trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy cân bằng dựa vào nghiên cứu trên dữ liệu với việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học. Các nhà giáo dục phải kiểm tra tất cả các thành phần của quá trình giảng dạy để giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể đạt được phản ứng tổng hợp năng động, là kết quả của nghệ thuật và khoa học trong giảng dạy để mang lại thành tích học tập tốt hơn cho người học. Trong tác phẩm này, Robert J. Marzano còn trình bày một mô hình để đảm bảo chất lượng giảng dạy dựa trên việc hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của từng người học.
Những kinh nghiệm và sự hiểu biết chuyên môn chắc chắn sẽ giúp giảng viên kiểm tra và phát triển kiến thức và kỹ năng của họ, để họ có thể tổng hợp được năng lực, sáng tạo để tạo ra thành tích đặc biệt trong giảng dạy và đào tạo được các học viên xuất sắc [40]. Drucker (2003) đã viết cuốn "Những thách thức của quản lý trong thế kỷ thứ XXI" - một trong những cuốn sách đột phá về các giả định trong quản lý. Cuốn sách đề cập một cách thẳng thắn, logic và sâu sắc tới các vấn đề quản lý vượt qua tầm nhìn của hiện tại, đưa ra những đề tài nóng bỏng của ngày mai. Cuốn sách có những ý tưởng mới, mang tính cách mạng và có tầm nhìn về các vấn đề quản lý trong tương lai, đưa ra một khái niệm rất mới: “nửa cuộc đời còn lại” và dẫn đến một thách 7 thức hoàn toàn mới mẻ: Bạn sẽ làm gì trong nửa cuộc đời còn lại của mình? Theo phân tích của ông, lần đầu tiên trong lịch sử loài người các cá nhân có thể sống lâu hơn các tổ chức nơi họ làm việc.
Những mô hình đổi mới, tầm quan trọng của xây dựng chiến lược, người dẫn đầu sự thay đổi, những thách thức của thông tin, năng suất lao động của tri thức và tự quản lý bản thân. Đây là những vấn đề nóng bỏng, thách thức của công tác quản lý trong tương lai [39]. Mark Mason (2005), trong Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam với chủ đề: “Higher Education Reform and International Integration” - “Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” [38], đưa ra “Chiến lược và giải pháp dành cho giáo dục đại học chất lượng và tính cạnh tranh toàn cầu”. Tham luận viện dẫn nghiên cứu về những nhân tố được chứng minh làm tăng hiệu quả học tập nhất là để bảo vệ cho luận điểm của tác giả là chất lượng giáo viên và chất lượng giảng dạy là công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.
Từ đó đưa ra kết luận về những vấn đề như: 1) Việt Nam có thể rút ra kinh nghiệm đổi mới giáo dục đại học từ các nước khác; 2) Việt Nam nên rút ra điều gì từ quá trình quốc tế hóa giáo dục đại học; 3) Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam nên tập trung ưu tiên gì; 4) Chính phủ nên đóng vai trò như thế nào trong quá trình đổi mới. Thực chất vấn đề được giải quyết chính là: đòn bẩy thay đổi quan trọng là chất lượng giáo viên và chất lượng giảng dạy trong giáo dục đại học và các nguồn lực nên tập trung vào tuyển chọn và duy trì đội ngũ tốt nhất và đào tạo đội ngũ vì mục tiêu này và nguồn lực chỉ nên tập trung vào số lượng hạn chế các cơ sở giáo dục chất lượng cao để động lực cải cách chất lượng được duy trì tốt hơn. UNESCO và ILO hai tổ chức quốc tế khuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển và ứng dụng các module trong đào tạo. Tại hội nghị quốc tế về module tại Bangkok (1977) và Paris (1985), các khuyến cáo của UNESCO về sự cần thiết triển khai áp dụng module trong đào tạo đã được đặc biệt chú ý.
Tại Paris, các chuyên gia cho rằng, sử dụng module "là thích hợp và cần thiết trong mọi đối tượng đào tạo, đặc biệt cho giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp và trong việc phổ biến kỹ thuật mới", đồng thời khuyến cáo các nước đang phát triển khi đầu tư tổng thể cho giáo dục còn hạn chế thì nên quan tâm tới việc đào tạo theo module. Cùng với mục tiêu nhằm khuyến khích việc áp dụng module trong giáo dục và đào tạo, cụ thể hơn, trong việc đào tạo giáo viên, các hội nghị khu vực họp tại Malina (5/1975) và tại Bangkok (12/1977) đã đề cập đến "việc phát triển các module phục vụ cho các chương trình cơ bản của đào tạo giáo viên". ILO đã xây dựng cho mình một hệ thống đào tạo theo module hoàn chỉnh, các quan điểm về đào tạo theo nhóm module về cơ bản không khác với những quan điểm trên tuy nhiên, do chức năng quốc tế, ILO đặt nhiệm vụ "quốc tế hóa" về các module đào tạo và hình thành một ngân hàng gồm 764 đơn nguyên học tập, nhưng cũng chỉ được có 5 lĩnh vực nghề [36]. ILO cho rằng một nghề nào đó đều được thể hiện qua các chuẩn kỹ năng nghề, dù nghề đó được xem xét ở bất kỳ quốc gia nào.
Sự khác biệt 8 của các chuẩn này không lớn và chúng được đặc trưng bởi hệ thống mục tiêu đào tạo (Aims and Objectives) và các kỹ năng thực hiện (Performance Skills). Chính các chuẩn này là cơ sở để xây dựng các module, đơn vị trung tâm trong các cấu trúc hệ thống đào tạo theo module của ILO. Tại Hội nghị khoa học quốc tế Comparative European Research - CER 2021 (29-31 tháng 3), Marián Šotek và Viliam Lendel đã trình bày báo cáo về “Các lý thuyết giáo dục hiện nay” [37]. Bài báo này đưa ra nghiên cứu lý thuyết về các cách tiếp cận hiện tại trong lý thuyết quản lý giáo dục đại học các học viện (HEI), chủ yếu là các trường đại học.
Thuật ngữ "cơ sở giáo dục đại học" được định nghĩa với các chức năng và nguyên tắc, vai trò trong quản lý, trách nhiệm, quyền hạn trong trường đại học. Bài báo này cũng xác định sự khác biệt chính giữa trường đại học và quản lý doanh nghiệp. Nó chỉ ra các mô hình và cấu trúc hiện tại của quản lý trường đại học, các thuộc tính chính và sự khác biệt của chúng. Trong bài báo này cũng chỉ ra ảnh hưởng của các cơ sở giáo dục đại học đối với xã hội.
Bài báo bảo vệ luận điểm của tác giả rằng mỗi trường đại học phải điều chỉnh cách thức lãnh đạo và quản lý của mình cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật, sau đó lựa chọn cách thức và mô hình phù hợp nhất để đạt được các mục tiêu mà cơ sở giáo dục đặt ra. Ioannis Valachis (2009) “Phát triển kỹ năng và kiến thức nguồn nhân lực trong ngành du lịch và khách sạn thông qua việc xác định chất lượng chương trình đào tạo” đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng đào tạo, theo định nghĩa của các học viên và ý định của những học viên đó để chuyển giao kiến thức thu được trên lớp đào tạo sang công việc của họ. Như vậy có thể khái quát chung quan điểm quản lý của các học giả quốc tế chính là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến với đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Hay nói một cách khác, quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý như lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Các nghiên cứu trong nước "Cẩm nang nâng cao năng lực quản lý nhà trường" của Đặng quốc Bảo (2007), bàn về vai trò của nhà trường trong việc thực hiện sứ mệnh của nền giáo dục trong đời sống kinh tế xã hội; nội dung quản lý nhà trường theo luật Giáo dục; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà trường Việt Nam; kế hoạch phát triển của nhà trường; quản lý tài chính; quản lý cơ sở vật chất trong nhà trường; công tác thanh tra, kiểm tra trong nhà trường; thông tin trong quản lý nhà trường; hiệu quả đào tạo trong nhà trường; vai trò của hiệu trưởng trong quản lý nhà trường [2].