Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC GIÁO DỤC MẪU GIÁO LỚN THEO BỘ CHUẨN PHÁT TRIỂN TRẺ EM 5 TUỔI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Năm 1992, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO đã chỉ rõ: “Không có sự tiến bộ và thành đạt nào mà có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục” [31]. Nhận thức rõ vị trí, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng khẳng định: “Con người và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo” [16, tr 14].
Đây là yêu cầu cấp bách đối với toàn xã hội, trong đó ngành giáo dục giữ vai trò quan trọng nhất. Nhận thức đúng các quan điểm giáo dục của Đảng và Nhà nước, huyện Bình Giang đã có nhiều giải pháp nhằm phát triển GDMN ngày càng ổn định, phát triển về quy mô trường, lớp và chất lượng chăm sóc, giáo dục. GDMN huyện Bình Giang đang có rất nhiều thuận lợi như: các điều kiện CSVC được tăng cường; đội ngũ giáo viên ngày càng trẻ hoá, chuẩn hoá về trình độ đào tạo; chế độ chính sách cho giáo viên được quan tâm và luôn có sự điều chỉnh cho phù hợp, giúp giáo viên tâm huyết, gắn bó với nghề, không còn tình trạng giáo viên bỏ nghề, chuyển nghề như trước. Trong lĩnh vực QLGD, đã có những công trình nghiên cứu về CBQL các cấp học, bậc học.
Các công trình nghiên cứu, tài liệu về QLGD được công bố. Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đi sâu vào nghiên cứu QLGD nói chung và đã đưa ra các khái niệm cơ bản về QLGD, các chức năng QLGD, quản lý nhà trường, nội dung và phương pháp quản lý nhà trường. Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng có một số công trình nghiên cứu về quản lý trường mầm non như: + Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1996), “Quản lý hệ thống mẫu giáo từ vi mô đến vĩ mô”, Trường Cán bộ Quản lý giáo dục Trung ương I, Hà Nội. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn + Nguyễn Ngọc Quang (1989), “Những khái niệm cơ bản về lý luận Quản lý giáo dục”, Trường Cán bộ Quản lý giáo dục Trung ương I, Hà Nội.
+ Đinh Văn Vang (1997), “Một số vấn đề quản lý trường mầm non”, Đại học Sư phạm - Đại học quốc gia Hà Nội. Những năm gần đây, GDMN được quan tâm nhiều hơn, vai trò quản lý của Hiệu trưởng trường MN cũng được đề cập ở một số công trình nghiên cứu cụ thể: + Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng cán bộ quản lý trường mầm non ở trường bồi dưỡng cán bộ giáo dục Hà Nội - Luận văn Thạc sĩ của Hồ Nguyệt Ánh - Trường CBQLGD TW1, 2000. + Một số biện pháp nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ lãnh đạo các trường mầm non huyện Văn Giang - tỉnh Hưng Yên - Luận văn Thạc sĩ của Đặng Thị Bích Thủy - Đại học Sư phạm Hà Nội, 2001. + Các biện pháp nâng cao năng lực quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng trường mầm non Hà Nội - Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Thủy - Đại học sư phạm Hà Nội, 2002.
+ Thực trạng và các biện pháp góp phần nâng cao năng lực quản lý của Hiệu trưởng các trường mầm non quận Cầu Giấy - Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Đức - Đại học Sư phạm Hà Nội, 2000. + Những giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý bậc học mầm non tỉnh Thái Nguyên - Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Mai Loan, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2002. Từ khi Chính phủ phê duyệt Đề án Phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010 - 2015 với những nội dung “Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục mầm non; Ban hành và hướng dẫn sử dụng Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi”, thì việc nghiên cứu công tác quản lý hoạt động CS - GD trẻ mẫu giáo nói chung, CS - GD trẻ MGL theo Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi nói riêng của HT trường MN vẫn chưa được đề cập cụ thể và hệ thống trong các công trình nghiên cứu. Hơn nữa, việc nghiên cứu vấn đề QL hoạt động CS - GD trẻ MGL theo bộ chuẩn PTTE 5 tuổi của HT trường MN đang diễn ra trong toàn quốc nói chung và trong toàn huyện Bình Giang nói riêng chứ không thể hiện ở một đơn vị riêng lẻ hay một trường điểm nào trong huyện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www. Một số khái niệm 1. Quản lý Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện môi trường luôn biến động. Quản lý trường học Quản lý trường học thực chất là hoạt động có định hướng, có kế hoạch của các chủ thể quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục, để nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường.
Quản lý trường mầm non Điều 18 của Luật Giáo dục: “GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi”[23]. Điều này đã khẳng định vị trí của GDMN trong hệ thống giáo dục quốc dân, đó là khâu đầu tiên, đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em. Trường MN là nơi thực hiện mục tiêu GDMN. QL trường MN là một khâu quan trọng của hệ thống quản lý ngành học.
Chất lượng QL trường MN có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng CS-GD trẻ, góp phần tạo nên chất lượng quản lý của ngành. Vì thế, trường MN trở thành khách thể cơ bản nhất, chủ yếu nhất của các cấp QLGD mầm non. Mọi hoạt động chỉ đạo của ngành đều nhằm tạo điều kiện tối ưu cho sự vận hành và phát triển của các cơ sở GDMN. QLGDMN là một bộ phận của QLGD, quản lý xã hội.
Cũng như công tác QLGD nói chung, việc quản lý con người cũng là yếu tố trung tâm của công tác quản lý GDMN. Xuất phát từ tính thống nhất của mục tiêu GDMN, công tác QLGDMN cũng có tính thống nhất, thể hiện ở kế hoạch chỉ đạo thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục giữa gia đình, nhà trường và với các trường mầm non của địa phương. Như vậy, quản lý trường mầm non là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên để chính họ tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đối với từng độ tuổi và mục tiêu chung của bậc học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.
Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi * Chuẩn Theo từ điển Tiếng Việt: “Chuẩn là cái được coi là hướng để theo đó làm cho đúng” [34]. Theo quy định về Bô ̣ chuẩn phát triển trẻ em năm tuổi (Ban hành kèm theo Thông tư số 23/2010/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì “Chuẩn là những mong đợi mà trẻ em năm tuổi biết và có thể làm được”. * Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Để hỗ trợ thực hiện chương trình giáo dục mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em năm tuổi vào lớp 1, Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư quy định về Bô ̣ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi. Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi được thể hiện: - Là những mong đợi về những gì trẻ nên biết và có thể làm được dưới tác động của giáo dục.
- Những kỳ vọng hợp lý của quốc gia đối với trẻ em 5 tuổi tại một giai đoạn. - Là xu hướng chung của các nước trên thế giới nhằm nâng cao và giám sát chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo. - Là cơ sở để thiết kế và điều chỉnh chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo lớn. Tóm lại: Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi là những tuyên bố thể hiện sự mong đợi về những gì trẻ em nên biết và có thể làm được dưới tác động của giáo dục.
Quản lý hoạt động CS-GD trẻ MGL theo bộ chuẩn PTTE 5 tuổi của Hiệu trưởng trường mầm non Quản lý hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ MGL theo bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi của Hiệu trưởng trường mầm non là những tác động của Hiệu trưởng vào hoạt động chăm sóc - giáo dục trẻ được tiến hành bởi giáo viên, trẻ mẫu giáo lớn và sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn dục cụ thể là nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ, chuẩn bị tâm thế cho trẻ em 5 tuổi vào lớp 1. Một số vấn đề cơ bản về quản lý hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ mẫu giáo lớn theo Bộ Chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi ở các trường mầm non. Hoạt động chăm sóc Theo Điều 24, Điều lệ trường mầm non (Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2008/QĐ-BGDĐT ngày 07 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) thì hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em bao gồm chăm sóc dinh dưỡng; chăm sóc giấc ngủ; chăm sóc vệ sinh; chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn. * Hoạt động chăm sóc trẻ trong trường mầm non bao gồm: + Chế độ sinh hoạt: Chế độ sinh hoạt của trẻ được xây dựng trên cơ sở đặc điểm tâm lý của trẻ ở từng độ tuổi và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế của trường.
Phải thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt và thỏa mãn một cách hợp lý các nhu cầu ăn, ngủ, nghỉ ngơi, vui chơi, học tập của trẻ; giúp trẻ phát triển hài hòa, cân đối về thể chất và tinh thần, hình thành ở trẻ nề nếp, thói quen tốt trong mọi hoạt động. + Nuôi dưỡng: Nuôi dưỡng có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của trẻ. Công tác nuôi dưỡng trong trường mầm non góp phần thực hiện mục tiêu bảo vệ sức khỏe cho trẻ.