Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG VIÊN CHỨC CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH SỰ NGHIỆP 1. Hoạt động bồi dưỡng viên chức các đơn vị hành chính sự nghiệp 1.Khái niệm hoạt động bồi dưỡng Trước hết, để hiểu khái niệm hoạt động bồi dưỡng, ta cần nắm được khái niệm bồi dưỡng là gì. Bồi dưỡng là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, bồi dưỡng có nghĩa là “làm cho tốt hơn, giỏi hơn”.
[30] Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức, tại Điều 5 có giải thích: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”. Đối với nhiều học giả, bồi dưỡng có thể được hiểu theo hai nghĩa - nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, bồi dưỡng là quá trình đào tạo với mục đích hình thành năng lực, phẩm chất nhân cách theo các mục tiêu đã được xác định. Với hàm ý này, bồi dưỡng bao hàm cả quá trình giáo dục và đào tạo, có thể diễn ra cả trong các đơn vị công tác và trong đời sống xã hội.
Nhiệm vụ của nó không chỉ là để trang bị thêm kiến thức, năng lực chuyên môn mà còn là bổ sung, phát triển để hoàn thiện nhân cách, phẩm chất, năng lực của con người sau khi đã kết thúc quá trình học tập và rèn luyện. Theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng là quá trình diễn ra sau khi người học kết thúc chương trình đào tạo giáo dục căn bản. Đối với hàm ý này, bồi dưỡng được xem như là một phần trong quá trình giáo dục và đào tạo, hướng tới việc bổ sung, phát triển và hoàn thiện nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn và phẩm chất của người học từ nền tảng đã có sẵn trước đó. Nhìn chung, bồi dưỡng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa trong từng hoàn cảnh và lĩnh vực khác nhau.
Thế nhưng, ý nghĩa tổng quát của nó vẫn là quá trình liên tục nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và 12 phẩm chất nói chung của người học. Đây là một trong những khâu vô cùng quan trọng giúp nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đáp ứng nhu cầu phục vụ của nền hành chính quốc gia. Hoạt động bồi dưỡng là khái niệm được phát triển từ khái niệm căn bản “bồi dưỡng” đề cập đến các hoạt động cập nhật và bổ sung kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, nâng cao nghiệp vụ, củng cố thêm về các kỹ năng nghề nghiệp. Các hoạt động này hướng đến mục tiêu nâng cao và củng cố một cách có hệ thống các tri thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ cho người học để có thể ứng dụng có hiệu quả trong quá trình làm việc ngoài cuộc sống.
Hoạt động bồi dưỡng là một hoạt động mang tính đặc thù riêng biệt, là việc làm cần thiết, phải được thực hiện thường xuyên để phát triển chất lượng đội ngũ làm việc nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Khái niệm viên chức Theo Điều 2, Luật Viên chức năm 2010, viên chức được định nghĩa là “công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập.” Họ thực hiện các công việc, nhiệm vụ gắn với chức danh, nghề nghiệp tương ứng tại các tổ chức do các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, các tổ chức chính trị hoặc chính trị-xã hội thành lập. Những tổ chức này có tư cách pháp nhân và thực hiện chức năng cung cấp các dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước [14] Theo Điều 3 Nghị định 115/2020/NĐ-CP ngày 25/9/2020 của Chính phủ quy định về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức. Theo đó, viên chức được phân loại dựa trên 2 tiêu chí: Thứ nhất, viên chức được phân loại dựa trên vị trí việc làm, chia ra thành 2 loại là viên chức quản lý (thực hiện nhiệm vụ quản lý, giám sát hoạt động) và viên chức không giữ chức vụ quản lý (bao gồm những người chỉ thực hiện các chuyên môn nghiệp vụ gắn với chức danh nghề nghiệp của mình trong ĐVHCSN đang công tác).
13 Thứ hai, viên chức được phân loại dựa trên trình độ đào tạo. Các trình độ này bao gồm: Tiến sĩ, thạc sĩ, đại học, cao đẳng, trung cấp. Hiện nay, viên chức thường được ký một trong hai loại hợp đồng làm việc với các ĐVHCSN: Hợp đồng không xác định thời hạn và hợp đồng xác định thời hạn. Hợp đồng làm việc xác định thời hạn là là hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên về thời hạn làm việc, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng kéo dài từ 12 đến 60 tháng.
Hợp đồng làm việc không xác định thời hạn là hợp đồng làm việc không có quy định giới hạn về thời gian làm việc của viên chức với cơ quan hành chính sự nghiệp cũng như không xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng. Khái niệm đơn vị hành chính sự nghiệp Các đơn vị hành chính sự nghiệp là các đơn vị được Nhà nước thành lập để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng quản lý hành chính, đảm bảo an ninh quốc phòng và sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội. Các đơn vị này được trực thuộc bởi các Bộ, Tổng cục, các cơ quan đoàn thể và các tổ chức xã hội do Trung ương và địa phương trực tiếp quản lý hoặc các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân. Các đơn vị này thường hoạt động bằng nguồn kinh phí do Ngân sách Nhà nước cấp dựa trên nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp hoặc do các nguồn kinh phí được tài trợ, các nguồn thu từ hoạt động kinh doanh dịch vụ để phục vụ các nhiệm vụ được giao, chủ yếu liên quan đến các hoạt động chính trị xã hội của Nhà nước.
Các ĐVHCSN hoạt động trong nhiều lĩnh vực đa dạng với những chức năng, nhiệm vụ khác nhau, được chia thành hai nhóm: Các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp. [10] Ở Việt Nam, các ĐVHCSN được phân thành 3 loại dựa trên 3 tiêu chí: Theo khả năng tự đảm bảo kinh phí của các ĐVHCSN, theo cấp ngân sách và theo quản lý tài chính. Theo khả năng tự đảm bảo kinh phí của các ĐVHCSN, các đơn vị này bao gồm 2 loại là ĐVHCSN thuần túy và ĐVHCSN có nguồn thu. ĐVHCSN thuần túy là các cơ quan công quyền trong bộ máy nhà nước và được chu cấp 14 hoạt động 100% từ Ngân sách nhà nước.
ĐVHCSN có nguồn thu là các đơn vị mặc dù cũng hoạt động dựa trên sự chu cấp kinh phí của Ngân sách nhà nước nhưng các đơn vị này cũng có những hoạt động có thể tạo ra nguồn thu cho mình, ví dụ như: trường học, bệnh viện. Theo cấp ngân sách, các ĐVHCSN được phân chia thành 5 loại. Thứ nhất là các đơn vị sự nghiệp công lập (trừ đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ Công an và Bộ Quốc phòng) thuộc phạm vi quản lý của bộ, cơ quan ngang bộ. Thứ hai là các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ quan thuộc Chính phủ (bao gồm cả đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ngoài).
Thứ ba là các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập. Thứ tư là các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc phạm vi quản lý của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh). Cuối cùng là các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện). Theo quản lý tài chính, các ĐVHCSN được phân chia làm 3 loại.
Thứ nhất là các đơn vị hành chính dự toán cấp 1 được nhận ngân sách hoạt động trực tiếp từ Thủ tướng chính phủ hoặc từ các cấp Ủy ban nhân dân, sau đó phân bổ kinh phí và giao kế hoạch dự toán cho các đơn vị cấp dưới trực thuộc mà mình quản lý. Thứ hai là các đơn vị hành chính dự toán cấp 2 thuộc sự quản lý của đơn vị hành chính dự toán cấp 1 và được cấp 1 giao cho thực hiện dự toán ngân sách kèm theo thực hiện phân bổ lại cho các đơn vị hành chính dự toán cấp 3. Cuối cùng, các đơn vị hành chính dự toán cấp 3 sẽ trực tiếp sử dụng nguồn ngân sách được giao bởi các đơn vị cấp 1 và 2 vào việc thực hiện các công việc cụ thể, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được phân công. Về đặc điểm, các ĐVHCSN là đơn vị thụ hưởng nguồn kinh phí cung cấp bởi Ngân sách Nhà nước dựa trên những quy định pháp luật và theo nguyên tắc không hoàn lại trực tiếp.
Các đơn vị này sẽ sử dụng kinh phí được cấp để thực hiện những nhiệm vụ, hoàn thành mục tiêu đã được hoạch định trước đó. Ngân 15 sách này sẽ được cấp và chi tiêu theo các mục đích chi cụ thể và phải được duyệt bởi các cấp có thẩm quyền để quyết toán hàng năm. Khái niệm viên chức các đơn vị hành chính sự nghiệp Viên chức các ĐVHCSN được định nghĩa là những người được tuyển dụng và thực hiện các công việc tương ứng với chức danh của họ tại các đơn vị được Nhà nước thành lập và hỗ trợ để hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ được giao phó, đáp ứng nhu cầu và sự phát triển chung của xã hội. Đơn vị chủ quản của họ không phải cá nhân hay doanh nghiệp hoặc tổ chức tư nhân mà là các cơ quan, đoàn thể trực thuộc Bộ, Tổng cục, Trung ương hoặc địa phương trực tiếp tiếp quản mà mục đích quan trọng nhất của các cơ quan/tổ chức đó không phải là thu về lợi nhuận cá nhân mà là phục vụ cho sự ổn định của nền hành chính quốc gia, cho sự phát triển chung của xã hội.
Các viên chức làm việc tại các ĐVHCSN sẽ được tuyển dụng và hưởng những lợi ích được quy định bởi Luật Viên chức. Các điều kiện ứng tuyển viên chức cho các ĐVHCSN phải tuân thủ dựa trên các điều kiện được nêu tại Điều 22 Luật Viên chức, trong đó cần lưu ý một số điều kiện như: Có quốc tịch Việt Nam và cư trú tại Việt Nam Từ đủ 18 tuổi trở lên.