Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG Ở TRƯỜNG MẦM NON THEO HƯỚNG LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về giáo dục môi trường ở trường mầm non theo hướng lấy trẻ làm trung tâm Trên thế giới, việc giáo dục môi trường được tiến hành từ những năm đầu của thập niên 70 thế kỷ XX, và từ đó đến nay, dưới sự hướng dẫn và theo dõi của các tổ chức môi trường của Liên Hiệp Quốc nó đã phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Ở Châu Âu, chúng ta phải nói tới Chương trình GDMN ở Đức môi trường giáo dục được tạo ra cho trẻ tham gia trải nghiệm, tìm hiểu khám phá một cách tích cực, phát triển thái độ kĩ năng, kiến thức và hiểu biết đúng đắn.
Những nhà quản lý cho rằng yếu tố quan trọng trong việc thiết kế chương trình giáo dục chính là Môi trường. Cách mà môi trường được xây dựng, thiết lập có thể xác định những gì sẽ diễn ra trong quá trình học của trẻ. Vì vậy, cần phải xem xét việc xây dựng môi trường giáo dục để có thể tối đa hóa việc học tập và sự phát triển của trẻ.[Dẫn theo tài liệu 8] Ở Châu Á, ta kể tới Chương trình GDMN ở Nhật Bản với quan điểm là chăm sóc giáo dục trẻ một cách tự do đã rất quan tâm đến việc giáo dục trẻ qua môi trường. Ở đó, nhà quản lý có nhiệm vụ xây dựng môi trường cho trẻ hoạt động, trẻ là trung tâm của mọi hoạt động.
Chương trình GDMN ở Trung Quốc Nhấn mạnh nguyên tắc quan trọng trong GDMN là việc sáng tạo xây dựng môi trường giáo dục tương ứng thích hợp với công tác GD.[21] Ngày 5/6/1972 LHQ đã tổ chức Hội nghị quốc tế về Môi trường và Con người tại Stockholm (Thụy Điển) với sự tham gia của 113 đại diện của Chính phủ các nước trên thế giới. Có thể nói đây là Hội nghị đầu tiên của nhân loại về vấn đề phát triển và môi trường. Hội nghị đã ra bản Tuyên bố Stockholm về 7 Môi trường và Con người gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc, trong đó nguyên tắc thứ 19 đã chỉ rõ “GDMT cho thế hệ trẻ cũng như người lớn tuổi, quan tâm thích đáng tới những người tàn tật là một việc làm hết sức cần thiết”. Sau Hội nghị Stockholm, hàng loạt các hội nghị sau đó của các tổ chức quốc tế diễn ra tại nhiều nước trên thế giới đều dành sự quan tâm rất lớn đến vấn đề bảo vệ môi trường và giáo dục môi trường trong giai đoạn hiện nay.[42] Năm 2016, một nhóm nghiên cứu do tác giả Treagust và cộng sự ở trường Đại học Curtin ở Perth Australia đã nghiên cứu trường hợp để tăng cường các chương trình giáo dục môi trường ở trường học: Phản ánh của học sinh tiểu học về kiến thức và thái độ.
Kết quả nghiên cứu sự cần thiết của việc thực hiện một chương trình giảng dạy giáo dục môi trường để giúp học sinh phát triển kiến thức và thái độ để thực hiện các hành động vì môi trường. Kyburz-Graber, R, & Robottom (2017) nghiên cứu “Giáo dục môi trường ở trường học và những lợi ích của nó trong học tập”. Nghiên cứu này nhằm phân tích những tác động của GDMT ở trường học đối với việc học tập của học sinh trung học phổ thông. Khung lý thuyết mà nghiên cứu này dựa vào mô hình hệ thống - chức năng của Parsons (1902-1979).
(2020) nghiên cứu “Tích hợp giáo dục môi trường trong trường tiểu học”. Nghiên cứu này nhằm xác định ý kiến và kiến thức của giáo viên về việc lồng ghép giáo dục môi trường vào quá trình học tập trên lớp cho học sinh tiểu học, sử dụng phương pháp khảo sát. Công cụ được sử dụng là một bảng câu hỏi bao gồm 15 câu hỏi và 04 câu bổ sung liên quan đến giáo dục môi trường trong quá trình học tập. Kết quả cho thấy, đa số giáo viên đồng tình cho rằng việc lồng ghép giáo dục môi trường trong quá trình học tập cho học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học là rất quan trọng.
Tuy nhiên, sự tích hợp này vẫn có những hạn chế, chẳng hạn như: thời gian không đủ. Dựa trên kết quả phân tích cho thấy, đối với cấp tiểu học, môn khoa học là môn học có khả năng tích hợp với giáo dục môi trường nhất trong quá trình học tập. 8 Khái quát cho thấy, công tác GDMT ở nước ta những năm qua tuy đã thu được một số kết quả bước đầu nhưng đang còn nhiều tồn tại và thiếu sót. Theo đánh giá của các tác giả Dương Tiến Sỹ Tài liệu phục vụ GDMT còn thiên về cung cấp kiến thức chưa đề cập đến phương pháp, hình thức GDMT, thiếu phương pháp, biện pháp giáo dục kĩ năng, thái độ, hành vi BVMT, dẫn tới việc khai thác tri thức MT và BVMT lồng ghép tích hợp trong nội dung môn học còn gặp nhiều lúng túng và mức độ thực hiện còn hạn chế [39].
Ngày 24/05/2014, tại Trại Đa dạng Sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, Trung tâm Công nghệ Giáo dục thuộc Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp cùng Trung tâm Giáo dục & Phát triển thuộc Hội Khuyến học Việt Nam, với sự tài trợ kinh phí từ Quỹ Rufford tổ chức Hội thảo “Giáo dục môi trường cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục thực địa”. Đây là chương trình Giáo dục công bằng môi trường với sự hỗ trợ của Quỹ Rufford nhằm giáo dục cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở về công bằng môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môi trường. Mục đích của Hội thảo nhằm giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm tổ chức các hoạt động giáo dục thực địa cho học sinh phổ thông, cũng như những đề xuất, kiến nghị để có thể mở rộng áp dụng giáo dục thực địa trong các nhà trường phổ thông Việt Nam. Chương trình đổi mới toàn diện hiện nay là sự tiếp nối chương trình trước với mong muốn phát triển quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, khắc phục những điều còn tồn đọng mà chương trình đổi mới hình thức tổ chức HĐ trẻ MN chưa làm được.
Về bản chất, nó cho phép giáo viên được chủ động trong việc xác định nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục trẻ MN trong đó có việc tổ chức MTHĐ cho trẻ, dựa trên khung chương trình. Tóm lại trên bình diện quốc tế GDMT đã được đề cập ở những góc độ khác nhau nhưng tấc cả đều khẳng định vai trò quan trọng của GDMT và sự cần thiết phải GDMT cho các đối tượng khác nhau, đặc biệt là cho thế hệ trẻ. Nghiên cứu về quản lý giáo dục môi trường ở trường mầm non theo hướng lấy trẻ làm trung tâm Các hội thảo khoa học nghiên cứu về quản lí HĐGDMT cho học sinh nói chung và cho trẻ mầm non rất ít. Tháng 7 năm 2016, tại thành phố Đà Nẵng, Liên hiệp hội Khoa học và Kĩ thuật của thành phố đã tổ chức hội thảo “Nâng cao trách nhiệm cộng đồng và nhà trường trong việc bảo vệ môi trường”.
Tham dự hội thảo có các nhà khoa học người Nhật và Việt Nam, các nhà nghiên cứu về vấn đề môi trường, các thầy cô giáo các trường TH, THPT trên địa bàn thành phố. Hội thảo đánh giá thực trạng môi trường của Thành phố Đà Nẵng, đưa ra các giải pháp, trong đó có giới thiệu một số mô hình giáo dục môi trường cho học sinh tại các trường học. Các công trình nghiên cứu và được công bố về quản lí HĐGDMT cho HS ở các trường tiểu học cũng rất ít. Đến nay, người nghiên cứu chỉ mới tìm thấy được 2 công trình có liên quan, đó là: Cao Hữu Công (2015) với đề tài “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường Tiểu học quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” đã chỉ ra thực trạng quản lí GDMT cho học sinh tiểu học về dạy học tích hợp nội dung GDMT, về GDMT qua HĐGDNGLL, công tác bồi dưỡng nội dung và phương pháp GDMT cho đội ngũ, công tác quản lí cơ sở vật chất.
Từ đó đề xuất các biện pháp quản lí như sau: (1) Nâng cao nhận thức cho đội ngũ; (2) Quản lí hoạt động dạy học tích hợp các nội dung GDMT; (3) Quản lí HĐGDMT thông qua HĐGDNGLL; (4) Phối hợp các tổ chức trong và ngoài nhà trường; (5) Quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ HĐGDMT.[12] Trần Thị Thùy Dung (2016), với đề tài “Quản lí hoạt động GDMT cho học sinh tiểu học thành phố Lào Cai thông qua hoạt động trải nghiệm”, tác giả đã nêu được các bước của hoạt động quản lí GDMT cho HS thông qua trải nghiệm; đưa ra 6 biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí HĐGDMT thông qua 10 hoạt động trải nghiệm, đó là: (1) Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho CBQL về mục tiêu, nội dung quản lí và ý nghĩa của GDMT thông qua hoạt động trải nghiệm; (2) Chỉ đạo thực hiện hiệu quả mục tiêu GDMT thông qua hoạt động trải nghiệm theo mô hình VNEN; (3) Kế hoạch hóa công tác GDMT thông qua hoạt động thực nghiệm sư phạm theo mô hình VNEN; (4) Hoàn thiện mục tiêu, nội dung GDMT thông qua các hoạt động trải nghiệm phù hợp với đặc điểm HS tiểu học; (5) Tăng cường phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trên tinh thần dân chủ và tự nguyện; (6) Tổ chức tập huấn cho đội ngũ tự quản trong hoạt động GDMT.[15] Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa có nghiên cứu nào về quản lí GDMT cho trẻ mầm non nói chung, đặc biệt là quản lí GDMT cho trẻ mầm non theo hướng trải nghiệm tại thành phố Bắc Ninh nói riêng. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Môi trường, giáo dục môi trường cho trẻ mần non 1. Môi trường Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 định nghĩa: “là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.
Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác”.: MT con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô thị, hồ chứa,…) và những cái vô hình (tập quán, nghệ thuật,.), trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình…. Theo các tác giả Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan [13].