Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGHỆ THUẬT CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG KHÁM PHÁ, TRẢI NGHIỆM 1. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý và chức năng quản lý a. Khái niệm về Quản lý? Trong đời sống xã hội và con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn.
Tất cả đều chịu sự quản lý nào đó. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì quan niệm rằng: "Quản lý là một quá trình có tính định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [18, tr 7]. Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [13, tr11].
Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học định nghĩa "Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” Tóm lại: Mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hay nói một cách khái quát nhất: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra. Như vậy, Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” 11 Luan van b.
Chức năng quản lý: Quá trình quản lý: Gồm bốn chức năng cơ bản (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) và hai vấn đề quan trọng (thông tin quản lý và quyết định quản lý). Các chức năng cơ bản của quản lý tạo thành quá trình quản lý và chu trình quản lý Sơ đồ 1. Chu trình quản lý Quản lý phải thực hiện 4 chức năng cơ bản đó là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
+ Chức năng kế hoạch là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý, nó tồn tại trong mọi tổ chức, trong mọi hoạt động quản lý. Khái quát có thể hiểu: Chức năng kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu phát triển của tổ chức và lựa chọn các biện pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đó. Như vậy, chúng ta thấy rõ của chức năng kế hoạch gồm 2 nhiệm vụ chính: Xác định mục tiêu và lựa chọn các biện pháp tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đó. + Chức năng tổ chức: Chủ thể quản lý muốn hoàn thành tốt chức năng kế hoạch thì họ cần phải thiết kế, xây dựng quy mô của tổ chức phù hợp để thực hiện tốt các chức năng khác.
Đó chính là chức năng tổ chức, là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý. Nó đóng vai trò vô cùng quan trọng. Công việc bao gồm: Xác định những việc phải làm, người nào phải làm, phối hợp hoạt động ra sao, bộ phận nào được hoàn thành, quan hệ giữa các bộ phận được thiết lập thế nào và hệ thống quyền hành trong tổ chức đó được thiết lập ra sao? Có thể khái quát chức năng tổ chức như sau: Chức năng tổ chức là chức năng phân phối, sắp xếp các nguồn nhân 12 Luan van lực và các nguồn lực khác tạo ra một cơ cấu tổ chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đề ra để tổ chức phát triển. + Chức năng chỉ đạo: Chức năng chỉ đạo tức là phải biết hành vi và động cơ của đối tượng quản lý, biết cách động viên, điều khiển, lãnh đạo những người khác, chọn các phương pháp quản lý phù hợp với những đối tượng và hoàn cảnh.
Trong mọi hoạt động quản lý, chức năng này đồng nghĩa với việc hướng dẫn, chỉ huy, điều khiển…đối tượng quản lý cùng với chủ thể quản lý thực hiện nhiệm vụ để đạt được mục tiêu tổ chức đặt ra. Có thể khái quát: Chức năng chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm đạt tới các mục tiêu với chất lượng cao. + Chức năng kiểm tra: Chức năng kiểm tra bao gồm việc xác định thành quả so sánh thành quả thực tế với thành quả đã xác định và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm bảo đảm tổ chức đang trên đường đi đúng hướng để hoàn thành mục tiêu. Như vậy, có thể hiểu quá trình quản lý có thể hiểu một cách đầy đủ gồm 6 yếu tố là bốn chức năng cơ bản (kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) và hai vấn đề quan trọng (thông tin quản lý và quyết định quản lý).
Các chức năng cơ bản của quản lý tạo thành quá trình quản lý và chu trình quản lý. Thông tin quản lý là cơ sở để nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả.Quá trình quản lý được thực hiện trình tự từ chức năng kế hoạch đến chức năng tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Trong thực tế các chức năng này đan xen hỗ trợ cho nhau trong quá trình thực hiện, trong đó mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chức năng khác. Chất xúc tác và liên kết giữa các chức năng cơ bản này là thông tin quản lý và quyết định quản lý.
Quản lý giáo dục: Theo tác giả nổi tiếng M.I Konđakop: "Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất lượng [29,tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2, tr. 13 Luan van Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là hoạt động giáo dục - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [31, tr12]. Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của ngành giáo dục, nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý nhằm đạt được nhũng mục tiêu đề ra.
Những tác động đó, thực chất là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch đảm bảo quá trình giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục. Như vậy, Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”. Giáo dục nghệ thuật Nghệ thuật được hiểu là phương tiện để diễn đạt hay truyền cảm xúc và ý tưởng, là phương tiện để khám phá và thưởng thức những yếu tố hình thức hay ý tưởng của một người thông qua giác quan. Giáo dục về nghệ thuật là hoạt động giáo dục nhằm tạo nên sự hiểu biết, khả năng thưởng thức, sáng tạo và thực hành một loại hình nghệ thuật cụ thể.
Nội dung của hoạt động giáo dục là những tri thức và kỹ năng về nghệ thuật. Trong khi đó, giáo dục thông qua nghệ thuật thì sử dụng nghệ thuật như những công cụ hay phương pháp để đạt được các mục tiêu giáo dục như hỗ trợ học tập trong nhà trường, phát triển năng lực cá nhân, thay đổi nhận thức và hành vi của cộng đồng, phát triển cộng đồng. Giáo dục nghệ thuật cho trẻ Mầm non là nội dung quan trọng của giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ và là việc cần phải được tiến hành nghiêm túc từ tuổi Mầm non. Có thể coi trẻ Mầm non là thời kỳ hoàng kim của giáo dục nghệ thuật.
Giáo dục nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo về bản chất là quá trình sư phạm được tổ chức có mục đích, có kế hoạch giúp trẻ được giáo dục đúng đắn trong môi tự nhiên ở nhà trường, gia đình và xã hội; tạo điều kiện hình thành và phát triển ở trẻ tâm hồn trong sáng, hồn nhiên, lòng nhân ái, tình cảm yêu thương với người thân; biết yêu quý, bảo vệ và sáng tạo ra cái đẹp, đưa cái đẹp vào trong cuộc sống. 14 Luan van Vậy, Giáo dục về nghệ thuật là hoạt động giáo dục nhằm tạo nên sự hiểu biết, khả năng thưởng thức, thực hành và sáng tạo một loại hình nghệ thuật cụ thể. Ở đây, nội dung của hoạt động giáo dục là những tri thức và kỹ năng về nghệ thuật, ví dụ: Hoạt động dạy vẽ, dạy múa, dạy đàn cho trẻ em. Hoạt động giáo dục nghệ thuật Hoạt động giáo dục nghệ thuật cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN là quá trình tổ chức cho trẻ tiếp xúc trực tiếp, đắm mình trong các tác phẩm nghệ thuật và trong hoạt động nghệ thuật nhằm tạo nên sự hiểu biết, kĩ năng thực hành và sáng tạo trong nghệ thuật và trong cuộc sống.
Hoạt động giáo dục nghệ thuật là việc chuyển giao các di sản văn hóa nghệ thuật từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mục đích của giáo dục nghệ thuật là tác động đến đối tượng giáo dục nhằm phát triển năng lực nghệ thuật cũng như nhận thức và tình cảm, góp phần hoàn thiện nhân cách con người [13, tr25].