Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HOÀ NHẬP TRẺ KHUYẾT TẬT Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDHN TKT lứa tuổi MN như: ý nghĩa, ND, chương trình, PP, hiệu quả về GDHN TKT lứa tuổi MN của Stainback, S.C (1996); Lisky và Gartner (1997), Wagner (2002); Sự cộng tác của gia đình trong GDHN TKT lứa tuổi MN của Raver, S.A (2009), Karren Kearns (2010); Thiết kế môi trường học tập ở lớp học hòa nhập của Friend M., Bursuck W (1996) Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về GDHN TKT lứa tuổi MN. Trong giáo trình “GDHN TKT lứa tuổi MN” (2017).
Các tác giả Lã Thị Bắc Lý, Bùi Thị Lâm, Hoàng Thị Nho đã làm rõ khái niệm TKT, nguyên nhân và đặc điểm TKT lứa tuổi MN. Các mô hình về GDHN TKT lứa tuổi MN cũng được các tác giả hệ thống hóa. Tổ chức GDHN TKT lứa tuổi MN theo các tác giả bao gồm: xác định NC và khả năng của TKT, xây dựng kế hoạch GD cá nhân, tổ chức môi trường học tập, điều chỉnh chương trình học tập phù hợp với khả năng và NC của TKT, phối hợp các lực lượng trong GDHN TKT lứa tuổi MN. Đề xuất mô hình hỗ trợ GDHN TKT lứa tuổi MN của Lê Thị Thúy Hằng (2011) hay mô hình GDHN cho trẻ có rối loạn phát triển trong trường MN của Lê Ánh Nguyệt (2015).
Hồ Sỹ Hùng (2019) trong báo cáo “GDHN TKT trí tuệ ở các trường MN tỉnh Thanh Hóa” tại hội thảo quốc gia đã chỉ ra thực trạng GDHN TKT trí tuệ ở các trường MN tỉnh Thanh Hoá. KQ được nghiên cứu trên 60 cán bộ QL và GV MN đã đạt một số KQ như: ĐG được khả năng của TKT trí tuệ, sự cần thiết của GDHN, các HĐ GD TKT trí tuệ, những khó khăn và BP nâng cao chất lượng GDHN. 5 Cao Thị Tiếng (2015), nghiên cứu về “Thực trạng và định hướng giải pháp phát triển GDHN TKT ở tỉnh Tiền Giang”, bài đăng trên tạp chí JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE, Vol. ND bài viết phản ánh thực trạng GDHN TKT ở tỉnh Tiền Giang thông qua ĐG, phân tích một số KQ đạt được và những thách thức trong công táchỗ trợ GDHN trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu về chất lượng và hiệu quả GD ngày càng cao của gia đình, cộng đồng và người khuyết tật trong GDHN của tỉnh giai đoạn tới. Trong nghiên cứu “Hợp tác với CM trong GDHN TKT ở trường MN” (2015) đăng trên tạp chí JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE, tác giả Bùi Thị Lâm chỉ ra: hợp tác với CM là một kĩ năng quan trọng của GV MN trong GDHN TKT ở trường MN. ND bài báo này đề cập đến các BP giúp GV hợp tác tốt với CM trẻ nhằm đáp ứng các NC cá nhân của từng trẻ. Các BP bao gồm: hiểu gia đình trẻ, duy trì giao tiếp thường xuyên với CM trẻ, tăng cường sự tham gia của CM vào các HĐ ở trường MN, cung cấp thông tin về chăm sóc- GD trẻ cho CM.
Hoàng Minh Phú (2020), bài viết “Thực trạng công tác GDHN cho trẻ tự kỷ ở các trường MN tại thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ góc độ các nhà QL cấp cơ sở” trên Tạp chí KH Đại học Văn Lang, số 24. Tác giả đã khẳng định vai trò, cần thiết của công tác GDHN cho trẻ tự kỷ, đặc biệt là trong lứa tuổi MN. Đặc biệt, trong xã hội hiện đại thì số lượng trẻ mắc chứng tự kỷ ngày càng nhiều. GDHN cho trẻ tự kỷ mới được nước ta triển khai khoảng từ năm 2000.
Tuy nhiên cho tới nay, việc GDHN cho trẻ tự kỷ tại các trường MN còn gặp rất nhiều khó khăn. Trong bài nghiên cứu, tác giả đã ĐG quá trình tiếp nhận và thực hiện GDHN cho trẻ tự kỷ trong các trường MN để có những ĐG về khó khăn, hạn chế trong công tác này. Đồng thời, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm khắc phục những khó khăn trên. Bùi Thị Hồng Minh (2022), Thực trạng GDHN trẻ tự kỷ tại một số trường MN trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Tạp chí KH, số 67.
Tác giả tiến 6 hành khảo sát 16 GV giảng dạy hòa nhập cho trẻ tự kỷ tại các trường: Trường MN Kid Smile, Trường MN Doremon (cơ sở 1,2,3), Trường MN Sakura và Trường MN tuổi Hoa trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đồng thời, tác giả cũng khảo sát 20 phụ huynh có con là trẻ tự kỷ đang học HN và 50 trẻ tại các trường này. Thông qua đó, tác giả ĐG hiệu quả GDHN cho trẻ tự kỷ tại các trường MN. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục hoà nhập trẻ khuyết tật lứa tuổi mầm non Các tác giả, Trần Ngọc Giao, Lê Văn Tạc, Nguyễn Xuân Hải, Trần Thị Thiệp và Nguyễn Thị Hoàng Yến, QL GDHN,NXB Phụ nữ, 2010.
Cuốn sách đã trình bày khá đầy đủ về lý luận liên quan tới QL GDHN. Nhóm tác giả làm rõ khái niệm, ND của QL, GDHN và QL GDHN. Tác giả Nguyễn Xuân Hải, trong giáo trình “Giáo trình QL trường, lớp dạy trẻ có NC đặc biệt”, NXB GD, 2009. Cuốn sách cũng trình bày tương đối rõ ràng và đầy đủ lý luận về các ND QL, QL trường lớp dạy trẻ có NC đặc biệt.
Nguyễn Xuân Hải, Giáo trình Quản lý GDHN, NXB Đại học Sư phạm, 2010. Cuốn giáo trình đã trình bày cơ sở lý luận về QL GDHN. Theo đó, các khái niệm, ND, hình thức GDHN và QL GDHN được làm rõ. Nguyễn Thị Lan Anh (2016), QL HĐ GDHN cho TKT ở các trường MN huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội, luận văn thạc sỹ, Đại học GD – Đại học Quốc Gia Hà Nội.
Tác giả đã tiến hành khảo sát nhằm ĐG thực trạng QL HĐ GDHN cho TKT ở các trường MN huyện Hoài Đức. Qua đó, tác giả cũng kiến nghị nhiều giải pháp để khắc phục hạn chế này. Nguyễn Xuân Việt (2016), BP QL GDHN TKT tại các trường MN trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng, luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Đà Nẵng. Luận văn của tác giả đã đi sâu ĐG thực trạng và rút ra mặt mạnh, mặt yếu trong QL GDHN TKT tại các trường MN trên địa bàn huyện Hòa Vang.
Đồng thời, luận văn cũng đưa ra một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả QL GDHN. 7 Trần Thị Mỹ Dung (2017), trong bài viết “Thực trạng QL HĐ QL HĐ GDHN TKT tại các trường MN quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả cho rằng GDHN và QL HĐ GDHN TKT là nhiệm vụ quan trọng, đồng thời là yêu cầu cấp thiết của toàn ngành GD. Bài viết trình bày KQ khả sát thực trạng QL HĐ GDHN TKT tại một số trường MN tại Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, tác giả đề xuất các BP giúp hiệu trưởng các trường MN QL HĐ GDHN TKT một cách hiệu quả nhất.
Trần Thị Thanh Hương, Nguyễn Văn Bắc (2020) trong nghiên cứu” QL HĐ GDHN cho TKT ở trường MN tỉnh Quảng Trị” đã tiến hành khảo sát thực trạng QL HĐ GDHN cho TKT ở các trường MN tỉnh Quảng Trị. KQ cho thấy, QL HĐ GDHN cho TKT tuy đã đạt được nhiều KQ tích cực nhưng ở ở một số trường MN HĐ này còn hạn chế ở một số mặt như QL ND, QL chương trình kế hoạch, QL việc tổ chức thực hiện, kiểm tra ĐG. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý QL là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra.
Trong xã hội loài người, QL là một HĐ bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. QL là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức QL khác nhau.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những HĐ cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “HĐ QL là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người 8 bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Trong QL, bao giờ cũng có chủ thể QL và đối tượng QL, quan hệ với nhau bằng những tác động QL. Những tác động QL chính là những quyết định QL, là những ND chủ thể QL yêu cầu đối với đối tượng QL.Mác so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng đối với hệ thống nhạc công, trong đó nhạc trưởng là một chủ thể QL, nhạc công là chủ thể bị QL (các nhạc công chịu sự tác động của nhạc trưởng) để đưa đến một sản phẩm “kép” một sản phẩm “siêu sản phẩm”. Đó là cả chủ thể QL và chủ thể bị QL đều phát triển (HĐ tạo ra các chủ thể và về sự phát triển của con người).
Như vậy, có thể cho rằng QL là những tác động có định hướng của chủ thể QL (nhà QL) tới khách thể QL (đối tượng QL) nhằm điều phối các HĐ của các cá nhân hay tập thể để đạt được mục đích chung của tổ chức bằng các PP và công cụ nhất định. Giáo dục hoà nhập Tổ chức Văn hóa, KH và GD Liên hiệp quốc (UNESCO) đã định nghĩa về GDHN như sau: “GDHN có nghĩa là tất cả học sinh đều được hưởng lợi từ cùng những hệ thống GD giống nhau, cùng những trường học như nhau. PP học tập và tài liệu giảng dạy hướng đến đáp ứng NC của tất cả học sinh đang học trong cùng một hệ thống GD, từ đó, những rào cản gây ra nguy cơ hạn chế sự tham gia được loại bỏ”. GDHN được xem như một hệ thống các giá trị nhằm bảo đảm quyền của tất cả trẻ em được tiếp cận bình đẳng với việc học tập, có cơ hội được tiếp cận và đạt được thành tích tốt trong tất cả các lĩnh vực GD ở trường (Ballard, 2012).