CHƯƠNG 1 1. Phân tích mô hình giáo dục chuyên biệt, từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của mô hình giáo dục này. Phân tích mô hình giáo dục bán hoà nhập (giáo dục hội nhập), từ đó chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của mô hình giáo dục này. Phân tích mô hình giáo dục hoà nhập,.
Liên hệ thực tiễn trường tiểu học hiện nay. Trình bày một số cách tiếp cận giáo dục hoà nhập. Phân tích các nguyên tắc giáo dục hoà nhập. Liên hệ thực tiễn trường tiểu học hiện nay.
\ 19 Chương 2 TỔ CHỨC GIÁO DỤC HÒA NHẬP Mục tiêu: 1. Kiến thức: Sau khi học xong chương này, người học hiểu được: + Những nội dung và phương pháp xác định nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật. + Nội dung và quy trình xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật. + Nội dung và phương pháp điều chỉnh chương trình phù hợp với nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật.
+ Các phương thức hỗ trợ trẻ khuyết tật hoà nhập ở trường tiểu học. + Sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật. Kỹ năng: + Vận dụng vào việc xác định nhu cầu và khả năng của một trẻ khuyết tật cụ thể. + Xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật cụ thể đó.
+ Thiết kế giáo án điều chỉnh chương trình phù hợp với nhu cầu, khả năng của trẻ khuyết tật cụ thể đó. + Vận dụng các phương thức hỗ trợ trẻ khuyết tật cụ thể đó hoà nhập ở trường tiểu học. + Huy động sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật cụ thể. Thái độ: Trên cơ sở đó, góp phần hình thành ở người học thái độ đúng đắn và tinh thần trách nhiệm với công tác giáo dục hoà nhập.
XÁC ĐỊNH NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG CỦA TRẺ Tìm hiểu nhu cầu và khả năng của trẻ khuyết tật là một việc làm bắt buộc trong giáo dục hòa nhập. Từ tìm hiểu nhu cầu và khả năng của trẻ, chúng ta mới có thể xây dựng được kế họach giáo dục cá nhân cho trẻ và các họat động hỗ trợ sau này giúp trẻ phát triển. Trẻ khuyết tật cũng có những nhu cầu cơ bản như mọi trẻ em khác, ngoài ra trẻ khuyết tật còn có một số nhu cầu riêng theo từng dạng tật và mức độ khuyết tật của trẻ. Xác định nhu cầu của trẻ khuyết tật a.
Khái niệm nhu cầu 20 Nhu cầu là sự đòi hỏi của cá nhân về những cái cần thiết để sinh sống và phát triển. Nhu cầu nào được con người nhận thức đầy đủ và sâu sắc, có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển thì nhu cầu đó trở thành động cơ, không có nhu cầu thì không có hoạt động. Để tồn tại và phát triển, con người nói chung và trẻ khuyết tật nói riêng có những nhu cầu cần được đáp ứng. Abraham Maslow nhà Tâm lý học người Mỹ đã xây dựng thuyết phát triển nhu cầu con người vào những năm 50 của thế kỷ 20.
Hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow được thể hiện dưới dạng hình kim tự tháp, trong đó các nhu cầu ở bậc thấp (nhu cầu cho sự tồn tại) thì xếp ở phía dưới, trong khi những nhu cầu cho sự phát triển, sự hoàn thiện cá nhân được coi là quan trọng hơn, giá trị hơn thì được xếp ở các bậc trên cao. Dù sống ở đâu, mỗi cá nhân đều có một số nhu cầu cơ bản như nhau. Tuy nhiên những nhu cầu đó không thường xuyên được đáp ứng với cùng mức độ. Các nhu cầu khác nhau không thể xem xét một cách biệt lập.
Không ai có thể tự mình đáp ứng được toàn bộ các nhu cầu đó. Nó chỉ có thể thực hiện được trong một cộng đồng với sự giúp đỡ của những người khác. 21 + Nhu cầu thể chất: Nhu cầu cơ bản cho sự tồn tại của cá nhân. Bao gồm các nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người như thức ăn đầy đủ, không khí để thở, nước uống, sưởi ấm, nơi trú ngụ, bài tiết, nghỉ ngơi…nhu cầu này là nền tảng cho sự tồn tại của con người.
+ Nhu cầu an toàn, an sinh: Nhu cầu này bao gồm, mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được yên tâm về các chế độ bảo hiểm xã hội, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở an toàn… Nhu cầu an toàn được thể hiện ngay từ khi đứa trẻ mới lọt lòng được duy trì và tồn tại trong suốt đời người. Điều đó có thể lý giải tại sao trẻ em từ lúc sinh ra đến tuổi trưởng thành vẫn luôn luôn cần có người thân bên cạnh. Khi độc lập cũng thật vô cùng khó khăn để người ta làm việc có hiệu quả, nếu như họ sống trong sự sợ hãi hoặc bất ổn định. + Nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương: Nhu cầu này được thể hiện cá nhân muốn thuộc về một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên.
Cá nhân thoả mãn nhu cầu này qua quá trình giao tiếp như tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó … + Nhu cầu được tôn trọng (nhu cầu tự trọng): Mong muốn được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân, đồng thời cảm nhận và quý trọng chính bản thân mình, danh tiếng của mình và coi trọng khả năng của bản thân. + Nhu cầu phát triển: Mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình sinh ra để làm - Đó là sự hiện thực hoá cái tôi của bản thân. Đó là nhu cầu được tự khẳng định mình, được sáng tạo, được thể hiện khả năng, thể hiện bản thân và được công nhận thành quả. Những nhu cầu đặc thù của trẻ khuyết tật Bảng 2-1: Các nhu cầu đặc thù của trẻ khuyết tật Nhu cầu của trẻ em Nhu cầu của trẻ khuyết tật cần được đáp ứng * Một trẻ em bị hở hàm ếch hoặc bị bại não thường gặp 1.
Nhu cầu về thể chất khó khăn khi nuốt thức ăn, có thể cần được giúp đỡ đăc biệt khi ăn uống. * Một em bị chứng động kinh, phong hoặc lên cơn co 2. Nhu cầu an toàn giật ở cơ quan phát âm khi nói, có thể cần có thuốc để 22 kiểm soát các cơn động kinh, co giật và ngăn ngừa chấn thương. * Một số trẻ khuyết tật có thể không được gia đình chấp 3.
Sự thương yêu, gắn nhận và thương yêu như những trẻ em bởi vì có thể do bó quan niệm sai lầm về sự sinh ra một đứa trẻ tật nguyền trong cuộc đời * Thái độ của gia đình và hàng xóm có thể giúp đỡ hoặc làm em chậm tiến. Điều quan trọng là phải thấy được 4. Nhu cầu được tôn năng lực của trẻ, đánh giá được cái mà trẻ có thể đóng trọng góp, đánh giá được vai trò của trẻ trong gia đình hơn là nhìn em như một một gánh nặng, tỏ lòng thương hại. * Trẻ khuyết tật cần được đi học, vì nhà trường là môi trường giáo dục hòa nhập tốt nhất, nơi có nhiều điều kiện cần thiết để trẻ có thể phát triển.
Một số trẻ khuyết 5. Nhu cầu phát triển tật có thể cần có những thiết bị hay phương tiện di chuyển đặc biệt để có thể đến trường. Nếu chăm sóc bảo vệ quá đáng và đánh giá thấp. sẽ ảnh hưởng đến lòng tự trọng và sự tiến bộ ở trẻ khuyết tật.
Trong quá trình thỏa mãn nhu cầu của trẻ khuyết tật, cần lưu ý: + Không thể đáp ứng các nhu cầu ở mức độ cao trừ khi đáp ứng được các nhu cầu ở mức độ thấp hơn. + Nếu bất kỳ nhu cầu nào không được đáp ứng thì sự phát triển của trẻ sẽ bị kìm hãm và khả năng học tập của trẻ sẽ bị suy giảm, + Gia đình – nhà trường – xã hội phải đảm bảo rằng trẻ em không bị kìm hãm sự phát triển do những nhu cầu của các em không được đáp ứng. Xác định khả năng của trẻ khuyết tật a. Khái niệm khả năng Khả năng là những đặc điểm cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để đạt được kết quả cho hành động nào đó.
Bất 23 kỳ hoạt động nào cũng đòi hỏi ở con người một khả năng nào đó và các khả năng liên quan với nhau. Theo Thuyết nhiều dạng trí khôn của Howard Gardner thì trong bản thân mỗi con người có rất nhiều khả năng trong đó có những khả năng mà chúng ta chưa bao giờ sử dụng hoặc ít sử dụng. Ông cho rằng ai cũng có khả năng nhất định và các khả năng đó phát triển ở các mức độ khác nhau. Ông đề xuất 8 dạng trí tuệ: Ngôn ngữ, tư duy logic, tưởng tượng, âm nhạc, nội tâm, quan hệ tương tác, vận động cơ thể, tìm hiểu thiên nhiên.
Các dạng trí tuệ này không nhất thiết phải bộc lộ hết ở một con người. Mỗi cá nhân có những khả năng nhất định, sự khác biệt về khả nawnng của mỗi cá nhân tạo neenn một bức tranh nhân cách riêng. Nhiều trẻ khuyết tật có khả năng vượt trội ở một lĩnh vực nào đó. Các đặc điểm về khả năng bù trừ của trẻ khuyết tật như sự nhạy cảm thính giác của trẻ mù; Sự nhạy cảm thị giác của trẻ điếc; Sự khéo léo đôi chân của trẻ liệt chi trên.
Do vậy, giáo viên cần tìm hiểu, phát hiện khả năng của các em để xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục nhằm phát huy hết khả năng phát triển của trẻ. Nội dung tìm hiểu khả năng của trẻ khuyết tật + Khả năng phát triển thể chất, vận động: Vận động thô; vận động tinh; tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ; phát triển các giác quan. + Khả năng ngôn ngữ và giao tiếp: Hình thức giao tiếp sử dụng; khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ; ngôn ngữ diễn đạt (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, phát âm, vốn từ, ngữ pháp…) kỹ năng đọc, viết, khả năng giao tiếp (không lời và bằng lời). + Khả năng nhận thức: Khả năng tri giác (nghe, nhìn và các giác quan khác); tập trung chú ý; khả năng ghi nhớ, tư duy, suy nghĩ, phán đoán, giải quyết vấn đề; hiểu biết và vận dụng trong cuộc sống.
+ Kỹ năng cá nhân – xã hội: Khả năng tự phục vụ trong ăn uống, vệ sinh, đi lại, phát triển và sinh hoạt theo lứa tuổi; hành vi ứng xử, cảm xúc, tình cảm.