Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHUẨN HIỆU TRƯỞNG MỚI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Một số công trình tiêu biểu trên thế giới Henri Faylor (1841-1925), một kỹ nghệ gia người Pháp có công trình “Tổng quát về quản lý - hay Thuyết quản trị” [10] (Adiministration Industriell or Generale) xuất bản năm 1916 mà cống hiến lớn nhất của ông là đưa ra 5 chức năng cơ bản quản lý, 16 quy tắc về chức trách quản lý và 14 nguyên tắc quản lý hành chính. Theo ông, nếu người quản lý có đủ phẩm chất và năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn với các chức năng, các quy tắc và nguyên tắc quản lý thì thực hiện được mục tiêu quản lý, từ đó dẫn đến thực hiện được mục tiêu của tổ chức.
Vì vậy, Ông nhấn mạnh vai trò của GD&ĐT, trước hết là đào tạo CBQL một cách chính quy và có hệ thống, nhằm nâng cao năng lực cho người CBQL. Giữa thế kỷ 18, một số nhà khoa học người Anh như: Nhà xã hội không tưởng vĩ đại Robert Owen (1771-1858), nhà toán học Charles Babbage (1792- 1871), đã đưa ra những quan điểm: tìm giải pháp quản lý với việc nâng cao năng suất lao động và nâng cao trình độ NLQL. Trên cơ sở xem xét những yếu tố văn hoá giữa con người với con người đã xuất hiện công trình nghiên cứu của William (Giáo sư trường Đại học California, Mỹ). Ông đã khẳng định, yếu tố quan trọng của văn hoá trong quản lý và nêu ra 7 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý được mô tả trong sơ đồ 7S: Strategy (chiến lược), Skills (kỹ năng), Style (cách thức), System (hệ thống), Structure (cơ cấu), Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ).
Thông qua mô hình và phân tích đặc điểm của 7 yếu tố trên để đánh giá NLQL của đội ngũ người quản lý. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự bùng nổ thông tin, các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý đã có các công trình về quản lý 6 trong môi trường luôn biến đổi, quản lý theo quan điểm hệ thống, quản lý tình huống và vấn đề chất lượng người quản lý thực sự đã được đề cập tới với những yêu cầu và cách thức nâng cao chất lượng đội ngũ. Harold Koont, Cyri Odonell, Heinz Weihrich với tác phẩm nổi tiếng: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”[8], công trình này đề cập nhiều hơn về yêu cầu chất lượng của người quản lý. Ngoài ra, một số nhà khoa học nổi tiếng ở Liên Xô như: Ilina T.A với tác phẩm Giáo dục học (tập 3: Những cơ sở của công tác giáo dục)[13]; Savin N.V với tác phẩm Giáo dục học (Chương 22, tập 2: Những vấn đề cơ bản của QLNT) [24] đã đề cập đến những vấn đề như: quan niệm về quản lý, bản chất quản lý, những nguyên tắc quản lý và các phương pháp quản lý.
Peter Drucker là cây đại thụ về quản lý thời hiện đại của Mỹ. Ông là người tiêu biểu của trường phái quản lý kinh nghiệm chủ yếu của phương Tây. Các công trình và ý tưởng quản lý của ông được xếp là 155 tinh hoa quản lý thế giới trong thế kỷ XX. Trong các công trình của mình, Ông đề cập đến nhiều vấn đề từ mục tiêu quản lý, tổ chức quản lý, nguyên tắc thiết kế tổ chức quản lý, chức năng cơ bản của tổ chức quản lý, năng lực, kỹ năng quản lý và tự quản lý.
Trong tác phẩm: “Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI ”, đề cập đến người quản lý, ông nhấn mạnh 5 nhiệm vụ cơ bản của họ đó là: Xác định mục tiêu, đồng thời quyết định những điều cần làm để đạt được mục tiêu đó và truyền đạt đến những thành viên có liên quan; tiến hành công tác tổ chức, tức là phân loại công việc, xây dựng cơ cấu tổ chức tương ứng, tuyển chọn nhân viên; khích lệ cán bộ, công nhân viên, liên kết công việc, liên kết mọi người với nhau; phân tích kết quả của đơn vị theo mục tiêu vạch ra; làm cho các thành viên đều trưởng thành[22]. Thuật ngữ năng lực gắn với lịch sử ra đời của xu hướng năng lực bắt nguồn từ sự thay đổi bối cảnh kinh tế và chính trị vào cuối những năm 60, với khái niệm “NLQL - managerial competency” được sử dụng nhiều theo tác phẩm của McClelland (1973) và nhóm tư vấn McBer (thập kỷ 1970 - xem Horton, 2002). Boyatzis đã xác định 19 năng lực gắn với việc thực hiện quản lý ở mức trung bình, 7 chia thành năm nhóm: Mục tiêu, hành động quản lý, lãnh đạo, quản lý nguồn nhân lực và hướng dẫn nhân viên. Những ý tưởng này phổ biến rộng ở Anh nhờ chính phủ, ban đầu là báo cáo Đánh giá Chứng nhận Nghề nghiệp (De Ville, 1986), sau đó là phát triển và thực hiện trong Tiêu chuẩn Nghề Quốc gia (NOS) trong quản lý (Sáng tạo, Chức năng, Quản lý, 1987, 1997).
Cách tiếp cận năng lực này phát triển nhanh trở thành một trong các mô hình chủ đạo trong phát triển và đánh giá quản lý và lãnh đạo ở Anh (Miller, 2001; Rankin, 2002). Dù cùng nguồn gốc và tương tự về thuật ngữ được sử dụng ở Anh và Mỹ, tuy nhiên, thập kỷ 80 và 90 có sự khác biệt trong tính chất khi áp dụng của các thuật ngữ quanh khái niệm năng lực. Theo các tác giả, năng lực là một khái niệm có nhiều thuật ngữ gần nghĩa và được định nghĩa đa dạng. Hơn nữa, do sự phát triển của khoa học và mở rộng của thuật ngữ, khái niệm năng lực cần gắn với các khía cạnh hoặc lĩnh vực cụ thể để xác định, nghiên cứu và vận dụng, trong đó có năng lực của hiệu trưởng được kết nối qua nhiều khái niệm khác nhau nhằm chỉ ra những năng lực cơ bản của người hiệu trưởng.
Tác giả nêu ra 70 lời bàn về NLQL và bồi dưỡng NLQL và có những lời khuyên cho người hiệu trưởng trong hoạt động thực tiễn để nâng cao NLQL như: Bạn đang là hiệu trưởng một nhà trường (hay người kế nhiệm của chức vụ này). Bạn hãy luôn luôn suy nghĩ: Cái khó không phải đạt được cho nỗ lực của mình, mà là đạt được hiệu quả theo sứ mệnh của mình; phải huy động năng lực vào việc duy trì và tăng cường mọi chức năng của tổ chức. Thiếu năng lực thì đi dần đến chỗ hỗn độn; kết quả đạt được phụ thuộc vào môi trường hoạt động của tổ chức mà môi trường thì thay đổi. Phải có tư duy quản lý sự thay đổi.
Phải “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. “Bất biến” trong nhà trường là nhân cách người học, “vạn biến” là phương pháp giáo dục; quản lý. Kiên trì thì luôn luôn thắng; lập kế hoạch kỹ lưỡng thì rất ít khi thất bại hoặc ít khi bị sai lầm. Hầu hết các thất bại trong nhà trường là do quản lý độc đoán mà không phát huy được “dân chủ” ở khâu vạch kế hoạch.
8 Trong tác phẩm: “Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI ”, P. Drucker nhấn mạnh đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho CBQL. Ông cho rằng nhà trường trong bao nhiêu thế kỷ nay đã được tổ chức dựa trên giả định: Có một cách học đúng đắn và là cách học chung cho mọi người nhưng theo ông mỗi người có cách học riêng và ít ai giống ai. Theo ông, công việc của người đứng đầu một đơn vị là rất phức tạp.
Mỗi công việc mà họ thực hiện đều đòi hỏi điều kiện và tố chất khác nhau. Do vậy, không thể yêu cầu người quản lý hiểu đầy đủ mọi vấn đề trong thực tiễn công tác. Chính vì vậy, người quản lý phải biết tự mình trau dồi năng lực cho bản thân, đồng thời các cấp quản lý phải tổ chức bồi dưỡng cho họ. Người CBQL phải biết nắm chắc thế mạnh của mình, luôn tự hoàn thiện phẩm chất, năng lực để xử lý có hiệu quả những vấn đề thực tiễn nảy sinh[22].
Những công trình khoa học nghiên cứu ở trong nước Trần Thị Bích Liễu (2005), “Quản lí dựa vào nhà trường: con đường nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục, ĐHSP Hà Nội” [15] nghiên cứu về vai trò của Hiệu trưởng đối với việc nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên, tổng hợp các nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, đã chỉ ra tầm quan trọng của Hiệu trưởng trong việc chia sẻ trách nhiệm và bồi dưỡng giáo viên thành những nhà lãnh đạo chuyên môn, đồng thời chỉ ra những giải pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho hiệu trưởng. Luận văn đã chỉ rõ ra hai lí do như sau: Hiệu trưởng không thể có đủ thời gian để lãnh đạo toàn bộ các hoạt động dạy học và họ không thể nắm rõ nhu cầu của lớp học như là giáo viên. Giáo viên là người am hiểu chuyên môn của môn học mà họ dạy và học hiểu rõ hơn bất kì ai học sinh và đặc thù lớp học của mình Vai trò lãnh đạo của giáo viên được các nhà nghiên cứu xem xét từ ba góc độ: (1) giáo viên là những người quản lý, lãnh đạo trung gian ở các vị trí tổ trưởng chuyên môn, chủ nhiệm khoa hay chủ tịch, tổ trưởng công đoàn,.; (2) là chuyên gia môn học, con chim đầu đàn để kèm cặp các giáo viên khác; 9 (3) là người xây dựng và duy trì văn hóa chia sẻ, cộng tác và học tập suốt đời để thực hiện tốt quá trình dạy học trong Nhà trường. Giáo viên chính là người thực hiện các kế hoạch, phương hướng của Nhà trường.
Vì vậy, con đường thành công nhất để phát triển chuyên môn cho giáo viên trong Nhà trường là bồi dưỡng vai trò lãnh đạo chuyên môn cho họ và bản thân cán bộ lãnh đạo cũng phải thường xuyên được bồi dưỡng.