Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp 5 trung Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Bình Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung Công ty Cổ phần Đường sắt Quảng Bình 6 PHẦN 2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯ NG 1: C SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP TRUNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý, cán bộ quản lý cấp trung của doanh nghiệp Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý: Theo Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo cho rằng: Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo.
Theo Harold Koontz (1993), quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định. Theo Nguyễn Thị Ngọc uyền, Đỗ Thị ải à và Đoàn Thị Thu à (2014), định nghĩa: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt được mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao, một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động”. Cán bộ quản lý cấp trung là người quản lý, điều hành các phòng ban chức năng; các đơn vị trực thuộc (ban chỉ huy một công trường xây dựng, đội sản xuất, nhà máy, xí nghiệp, công ty con.); các bộ phận (các tổ, nhóm chuyên trách thuộc các phòng ban, đơn vị) của một tổ chức, một doanh nghiệp,. Nhiệm vụ của cán bộ quản lý cấp trung là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát các hoạt động nghiệp vụ của phòng ban, đơn vị trực thuộc, bộ phận của mình theo sự phân công của lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung 1. Khái niệm năng lực Có rất nhiều nghiên cứu về năng lực, theo quan điểm của những nhà tâm lý 7 học thì năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Các năng lực được hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân và quá trình hoạt động, học tập của cá nhân đó. Nhưng phải khẳng định năng lực của con người không phải hoàn toàn bẩm sinh hay do tự nhiên mà có được; tố chất cá nhân chỉ là điều kiện tiền đề, tạo thuận lợi cho năng lực hay đó mới là dạng tiềm năng.
Yếu tố chủ yếu đóng vai trò quyết định năng lực trên thực tế của một cá nhân là do học tập, do hoạt động trong xã hội mới có được. Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn. Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều ngành hoạt động khác nhau như năng lực phán xét tư duy lao động, năng lực khái quát hoá, năng lực học tập, năng lực tưởng tượng. Năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng trong lĩnh vực nhất định của xã hội như năng lực tổ chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội họa, toán học,.
Năng lực chung và năng lực chuyên môn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì càng dễ đạt được thành năng lực chuyên môn. Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, năng lực là đặc điểm tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo, là cái mà người đó có thể dùng khi hoạt động. Trong điều kiện bên ngoài như nhau những người khác nhau có thể tiếp thu các kiến thức kỹ năng và kỹ xảo đó với nhịp độ khác nhau có người tiếp thu nhanh, có người phải mất nhiều thời gian và sức lực mới tiếp thu được, người này có thể đạt được trình độ điêu luyện cao còn người khác chỉ đạt được trình trung bình nhất định tuy đã hết sức cố gắng. Năng lực con người bao giờ cũng có mầm mống bẩm sinh tuỳ thuộc vào sự tổ chức của hệ thống thần kinh trung ương, nhưng nó chỉ được phát triển trong quá trình hoạt động phát triển của con người, trong xã hội có bao nhiêu hình thức hoạt động của con người thì cũng có bấy nhiêu loại năng lực.
Do đó khi xem xét kết quả công việc của một người cần phân tích rõ những yếu tố đã làm cho cá nhân hoàn thành công việc, người ta không chỉ xem cá nhân đó làm gì, kết quả ra sao mà còn 8 xem làm như thế nào để phát triển năng lực thể hiện ở chỗ người ta làm tốn ít thời gian, ít sức lực của cải vật chất mà kết quả lại tốt. Qua phân tích ở trên ta có thể thấy năng lực không chỉ phụ thuộc vào cá nhân mà còn phụ thuộc vào bối cảnh, mục đích sử dụng và tổ chức sử dụng những năng lực đó. Năng lực còn là những đòi hỏi của các công việc, các nhiệm vụ và các vai trò. Vì vậy, năng lực được xem như là những phẩm chất tiềm tàng của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc, nhờ đó mà họ hoàn thành các công việc, nhiệm vụ trong lĩnh vực nhất định.
Có rất nhiều cách tiếp cận về năng lực, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của mình: - Những mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá nhân theo đuổi cách xác định “con người cần phải như thế nào để thực hiện được các vai trò của mình”; - Những mô hình dựa trên cơ sở các kiến thức hiểu biết và các kỹ năng được đòi hỏi theo đuổi việc xác định “con người cần phải có những kiến thức và kỹ năng gì” để thực hiện tốt vai trò của mình; - Những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo đuổi việc xác định con người “cần phải đạt được những gì ở nơi làm việc”. Mô hình tiếp cận sản phẩm đầu ra được các nhà nghiên cứu và thực hành trên thế giới ủng hộ rất nhiều. - Theo McLagan (1989), thì năng lực được hiểu là một tập hợp các kiến thức, thái độ, và kỹ năng hoặc cách chiến lược tư duy, mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng. - Theo Bernard Wyne và David Stringer (1997), thì năng lực là kỹ năng, hiểu biết, hành vi, thái độ được tích luỹ mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc mong muốn của họ.
Từ các nhận định trên, ta có thể mô tả năng lực theo công thức: Năng lực = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ làm việc Trong đó: 9 * Kiến thức: Là những hiểu biết về một sự vật hoặc hiện tượng mà con người có được thông qua trải nghiệm thực tế hoặc được tích lũy từ giáo dục. * Kỹ năng: Là khả năng áp dụng tri thức khoa học vào thực tiễn để giải quyết một công việc cụ thể nào đó. * ành vi, thái độ: ành vi, thái độ đối với một công việc được hiểu là quan điểm, quan niệm về giá trị, thế giới quan, suy nghĩ, tình cảm, ứng xử của cá nhân ấy với công việc đang đảm nhận. Như vậy, năng lực là một tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ được tích luỹ mà một người sử dụng để đạt được kết quả công việc, hoạt động thành công trong một lĩnh vực nhất định.
Khái niệm lãnh đạo Theo Nguyễn Thị Ngọc uyền, Đỗ Thị ải à và Đoàn Thị Thu à (2014), “lãnh đạo là quá trình truyền cảm hứng, khơi dậy sự nhiệt tình và tạo động lực của con người để họ làm việc một cách tốt nhất nhằm đạt được các mục tiêu kế hoạch”. Như vậy có thể thấy, lãnh đạo là sự kết hợp nhiều yếu tố nhằm giúp cho người lãnh đạo có thể gây ảnh hưởng tới người khác để họ tự nguyện hành động nhằm đạt được những mục tiêu chung. Cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp Cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp thường là những người đứng đầu các phòng (trưởng, phó phòng) trong doanh nghiệp, có thẩm quyền ra các quyết định quản lý có liên quan đến những bộ phận, phân hệ của phòng và chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vi cũng như trước cán bộ nhân viên dưới quyền về mọi hoạt động của phòng. Cán bộ quản lý cấp trung là cán bộ quản lý của các phòng/ban trong doanh nghiệp; trên họ là những người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp và dưới họ là các trưởng bộ phận, tổ trong phòng mà họ phụ trách.
Từ những khái niệm trên có thể đưa ra một định nghĩa chung về năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp như sau: Năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp là tổng 10 thể các kiến thức, kỹ năng, đạo đức và thái độ làm việc của cán bộ quản lý cấp trung cần có để thực hiện các các hoạt động lãnh đạo, điều hành công việc trong phạm vi quản lý của mình và được thể hiện thông qua kết quả, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ, công việc mà cán bộ quản lý cấp trung đó đảm nhận. Khái niệm nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung Nâng cao có thể hiểu là làm tăng thêm. Từ đó có thể hiểu: Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung là việc các nhà quản trị cấp cao sử dụng những biện pháp, cách thức cần thiết để giúp cán bộ quản lý cấp trung gia tăng kiến thức, kĩ năng, phẩm chất và thái độ trong hoạt động lãnh đạo nhằm đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp 1.
Năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp trung trong doanh nghiệp 1.