CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề về động lực và tạo động lực làm việc cho NLĐ 1. Nhu cầu và vấn đề thỏa mãn nhu cầu Nhu cầu là khái niệm được đề cập tới rất nhiều trong các nghiên cứu trong khoa học xã hội. Nhu cầu được xem là một thành tố cơ bản trong nhân cách của cá nhân.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về nhu cầu tuỳ thuộc vào góc độ tiếp cận của các học giả. Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai thì “Nhu cầu là những đòi hỏi của cá nhân để tồn tại và phát triển, nhu cầu thường là những đòi hỏi đi từ thấp tới cao, nhu cầu có tính phong phú, đa dạng, thay đổi theo bối cảnh (cá nhân và xã hội. [4] Nhu cầu của con người vô cùng đa dạng, mang tính lịch sử và gắn liền với nền sản xuất xã hội. Sự phát triển của loài người chính là quá trình thoả mãn chuỗi nhu cầu, đồng thời làm nảy sinh những nhu cầu mới.
Tuy nhiên, việc thoả mãn nhu cầu chỉ được xem là tích cực khi chúng giúp cho con người phát triển về mặt nhân cách. Căn cứ vào điều kiện tồn tại của đối tượng nhu cầu, có thể phân chia thành nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Căn cứ vào chủ thể của nhu cầu, có thể phân chia thành nhu cầu cá nhân và nhu cầu xã hội. Ngày nay, với xu hướng phát triển của xã hội, việc nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu của NLĐ là một cách tiếp cận hữu hiệu giúp nhà quản lý có những cách thức tác động phù hợp tới NLĐ, tạo môi trường làm việc thuận lợi để NLĐ yên tâm công tác, cống hiến cho doanh nghiệp.
Một khái niệm cơ bản khác có quan hệ với nhu cầu là “Động lực”. Đây là khái niệm được nhắc đến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Các nhà quản lý luôn đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Cái gì là động lực thúc đẩy NLĐ? Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này song có thể khái quát: Động lực là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. “Động lực lao động là lực đẩy từ bên trong cá nhân NLĐ, giúp họ phát huy mọi nỗ lực, khắc phục khó khăn, say mê lao động, hướng tới mục tiêu Luan van 8 của cá nhân cũng như mục tiêu của tổ chức".
Trên thực tế, cần phân biệt hai khái niệm động lực và động cơ. Cả động lực và động cơ đều hết sức quan trọng nhưng động lực là yếu tố có tính bền vững hơn còn động cơ thường mang tính ngắn hạn, nhất thời. Động cơ được xem là lý do cá nhân thực hiện một hành động cụ thể nào đó, còn động lực là lý do cao nhất, thường trực trong con người, dẫn dắt, định hướng hoạt động của họ. Như vậy, động lực là một trạng thái bên trong, cung cấp năng lượng và thúc đẩy con người hoạt động để đạt mục đích.
Ở các cá nhân khác nhau thì tính chất, nội dung của động lực cũng khác nhau. Tạo động lực làm việc cho NLĐ Vấn đề tạo động lực làm việc cho NLĐ cũng được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ lâu. Theo các tác giả Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2013), [6] thì: “Tạo động lực làm việc được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong công việc”. Nguyễn Thị Minh An (2013), trong cuốn Quản trị nhân lực, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, Hà Nội [1], đưa ra quan niệm: “Tạo động lực lao động là sự vận dụng một hệ thống chính sách, biện pháp, cách thức quản lý tác động với NLĐ làm cho họ có động lực trong công việc, làm cho họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho tổ chức”.
Một cách khái quát, có thể hiểu: Tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị sử dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý khác nhau để tác động tới NLĐ, làm cho họ tích cực lao động, hài lòng với công việc và mong muốn được cống hiến nhiều hơn cho tổ chức, doanh nghiệp của mình. Một số lý thuyết liên quan đến động lực lao động Có rất nhiều lý thuyết khác nhau nghiên cứu về vấn đề tạo động lực cho NLĐ trong tổ chức, điển hình là: 1. Thuyết hệ thống nhu cầu của Abraham Maslow A. Maslow (1908- 1966), nhà tâm lý học người Mỹ, sáng lập ra trường phái Luan van 9 tâm lý học nhân văn, là tác giả của lý thuyết này.
Maslow cho rằng cùng một thời điểm, con người có nhiều nhu cầu khác nhau cần phải được thoả mãn. Ông phân chia nhu cầu của con người thành 5 nhóm, theo thang bậc từ thấp đến cao, cụ thể là: - Nhu cầu sinh học: Là nhu cầu bậc thấp của con người, nằm ở vị trí cuối thang. Đây là các nhu cầu cơ bản giúp con người duy trì cuộc sống (nhu cầu ăn uống, ngủ, sinh dục.) - Nhu cầu an toàn: An toàn là một nhu cầu cơ bản, có liên quan đến các nội dung như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp. - Nhu cầu về sự liên kết và chấp nhận: là một trong những nhu cầu xã hội của con người, bao gồm nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được yêu thương, gần gũi; tán thưởng, ủng hộ; được hòa nhập vào các nhóm xã hội, lòng yêu thương là những nội dung quan trọng của nhu cầu này.
- Nhu cầu về sự tôn trọng: Nội dung của nhu cầu này bao gồm hai nội dung là: Lòng tự tôn và Mong muốn được người khác tôn trọng. - Nhu cầu tự hoàn thiện bản thân: là nhu cầu ở bậc cao nhất trong thang nhu cầu. Đây là nhu cầu được phát triển, tự khẳng định mình, được trưởng thành và phát triển, hoặc là đạt được các thành tích mới, sáng tạo ra cái mới được xã hôi thừa nhận rộng rãi. Hệ thống nhu cầu của con người được sắp xếp theo sơ đồ hình tháp, trong đó các nhu cầu sinh học (cấp thấp) nằm ở dưới đáy còn các nhu cầu xã hội (cấp cao) nằm ở đỉnh tháp.
Các nhu cầu hoạt động theo nguyên tắc: trước khi các nhu cầu bậc cao phát huy vai trò động lực thì các nhu cầu bậc thấp (sinh học) phải được thỏa mãn và khi tính cấp bách của chúng giảm đi thì những động cơ tiếp theo mới đóng vai trò thúc đẩy hoạt động của con người. Lý thuyết Hệ thống nhu cầu của Maslow là một trong những lý thuyết được đề cập nhiều nhất trong tài liệu về khoa học quản lý. Các doanh nghiệp ứng dụng lý thuyết này nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của NLĐ (cả vật chất và tinh thần), cải thiện mối quan hệ giữa con người với con người, thúc đẩy năng suất làm việc, gia tăng lợi nhuận. Mối quan hệ giữa hệ thống nhu cầu xét ở góc độ lý thuyết và góc độ Luan van 10 thực tiễn tạo động lực cho NLĐ trong các doanh nghiệp được thể hiện qua bảng sau: Bảng 1.
Ứng dụng thuyết nhu cầu Maslow vào thực tiễn doanh nghiệp Cấp độ Lý thuyết Thực tiễn 5 Nhu cầu tự hoàn thiện: Được tự Được tự chủ, sáng tạo và có quyền ra chủ, phát triển tiềm năng sáng tạo, quyết định khi thực hiện nhiệm vụ. có quyền ra quyết định khi thực Được khuyến khích khi đạt được hiện nhiệm vụ và vượt lên chính thành tích nhất định. mình trong công việc. 4 Nhu cầu về sự tôn trọng: chứng tỏ Được độc lập trong công việc.
Được được năng lực của mình, gây ảnh lãnh đạo khuyến khích, động viên. hưởng tới người xung quanh, được tôn trọng hoặc giữ chức vụ quan trọng. 3 Nhu cầu liên kết và được chấp Được làm việc trong môi trường nhận: Là thành viên của một nhóm thân thiện. xã hội nào đó; Được lắng nghe và được quan tâm, chia sẻ.
2 Nhu cầu an toàn: là mong muốn Có việc làm; Được hưởng đầy đủ tránh khỏi các tác nhân gây hại cho phúc lợi xã hội. con người như: tai nạn, bệnh tật. 1 Nhu cầu sinh học: ăn, uống, ngủ, Được đảm bảo các điều kiện làm sinh dục… việc cơ bản như: nơi nghỉ ngơi, nhà ăn… Lý thuyết hệ thống nhu cầu của Maslow đã đưa ra những gợi ý quan trọng đối với các nhà quản trị, đó là muốn quản lý nhân viên có hiệu quả thì các cấp quản lý phải hiểu họ đang có nhu cầu gì và chúng thuộc cấp độ nào trong thang bậc nhu cầu của con người. Từ đó đề ra các giải pháp phù hợp thúc đẩy NLĐ làm việc tích cực hơn, đồng thời đạt các mục tiêu khác của tổ chức.
Thuyết công bằng của Stacy Adams Thuyết công bằng được phát triển bởi tác giả Stacy John Adams (1963). Thuyết này cho rằng con người có xu hướng tìm kiếm sự công bằng xã hội từ các phần thưởng mà họ kỳ vọng nhận được cho những thành tích của mình. Phần lớn NLĐ đều mong muốn được đối xử công bằng và họ có xu hướng so sánh giữa tỷ số lợi ích và đóng góp của bản thân với tỷ số quyền lợi và đóng góp của người khác, cụ thể là: tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi xã hội… Có thể khái quát thuyết này qua sơ đồ sau: Lợi ích cá nhân = Quyền lợi của người khác Sự đóng góp của cá nhân Sự đóng góp của người khác Con người sẽ giảm động lực lao động nếu họ cảm thấy các yếu tố đầu vào của mình không được khen thưởng một cách tương xứng. Sự công bằng được đánh giá dựa trên nhận thức về định mức thị trường.
Nếu không được đối xử hợp lý, không được thưởng xứng đáng với công sức đã bỏ ra thì cá nhân sẽ bất mãn, dẫn tới làm việc không hết khả năng và thậm chí là bỏ việc. Ngược lại, nếu tin rằng được phần thưởng và đãi ngộ cao hơn so với kì vọng của mình, cá nhân sẽ lao động tích cực hơn. Trên thực tế, con người có xu hướng đánh giá cao cống hiến của mình và đánh giá thấp về lợi ích mà họ nhận được. Khi phải đối mặt với sự không công bằng, lúc đầu con người có thể chấp nhận, chịu đựng hoặc thậm chí phản ứng tiêu cực bằng cách phản đối, song nếu sự không công bằng diễn ra trong thời gian dài thì họ sẽ tìm kiếm công việc khác.