phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc trình bày theo 3 chƣơng: e 6 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý công tác GDHN cho TKT ở các trƣờng MN. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác GDHN cho TKT ở các trƣờng MN tại thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động GDHN cho TKT ở các trƣờng MN tại thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. e 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Mô hình giáo dục (GD) chuyên biệt và GD bán hòa nhập ra đời trƣớc đó đã có những tồn tại nhất định, và tính tất yếu của giáo dục hòa nhập (GDHN), nên trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mô hình GDHN. Các nghiên cứu nước ngoài Chủ trƣơng về GDHN trên thế giới đƣợc khởi đầu từ Tuyên bố về con ngƣời năm 1984, Hội nghị giáo dục 1990 đƣợc tổ chức ở Jomtien- Thái Lan và hội nghị Thƣợng đỉnh về trẻ em ở NewYork năm 1990 thống nhất chƣơng trình mục tiêu đến năm 2000 “GD cho tất cả mọi ngƣời” trong đó có trẻ khuyết tật (TKT) [4]. Tuyên ngôn về GD đặc biệt Saramanca - Tây Ban Nha 1994, Việt Nam là thành viên với nội dung: GDHN đƣợc tiến hành với các tiền đề mà theo đó, nhà trƣờng sẽ tốt hơn đối với mọi ngƣời khi tiếp nhận mọi trẻ em trong cộng đồng. Giáo viên sẽ tốt hơn khi có trách nhiệm với mọi trẻ em.
Đảm đƣơng trách nhiệm này, giáo viên sẽ trở nên tích cực hơn, sáng tạo hơn và hiểu đƣợc nhu cầu của từng trẻ [4]. Công ước quốc tế về Quyền của trẻ em (1995, điều chỉnh bổ sung 2002) [4]: 1. Các quốc gia thành viên thừa nhận rằng TKT về tinh thần hay thể chất cần đƣợc hƣởng một cuộc sống đầy đủ và tƣơm tất trong những điều kiện bảo đảm phẩm giá, thúc đẩy khả năng tự lực và tạo cơ sở cho trẻ em tham gia tích cực vào cộng đồng. Các quốc gia thành viên thừa nhận quyền của TKT đƣợc chăm sóc đặc biệt và tùy theo các nguồn lực sẵn có, phải khuyến khích và bảo đảm dành cho TKT và cho những ngƣời có trách nhiệm chăm sóc sự giúp đỡ mà họ yêu cầu mà thích hợp với điều kiện của trẻ em đó và với hoàn cảnh của cha mẹ hay những ngƣời khác chăm sóc trẻ em đó.
Trên cơ sở thừa nhận các nhu cầu đặc biệt của TKT, sự giúp đỡ dành cho TKT theo khoản 2 của điều này phải đƣợc cung cấp miễn phí, bất kỳ khi nào có thể, có tính đến khả năng tài chính của cha mẹ hay những ngƣời khác chăm sóc TKT và sự giúp đỡ đó sẽ đƣợc sắp xếp để bảo đảm rằng TKT đƣợc tiếp cận một cách hiệu quả và đƣợc nhận sự GD, đào tạo, các dịch vụ y tế và dịch vụ phục hồi chức năng, chuẩn bị công ăn việc làm và các cơ hội vui chơi, giải trí theo cách thức có lợi cho việc trẻ em có thể hòa nhập tối đa vào xã hội và phát triển các năng lực cá nhân, kể cả sự phát triển văn hóa và tinh thần của những trẻ em đó. Điều này thể hiện rõ, tinh thần GD mọi nơi mọi lúc và trên cơ sở thực tiễn gia đình, GD cho tất cả mọi ngƣời Điều 24, Công ƣớc về Quyền của Ngƣời khuyết tật (KT) (2006) đã khẳng định [4]: Trong mọi hành động liên quan tới TKT, lợi ích tốt nhất của trẻ phải đƣợc đặt lên hàng đầu. Các quốc gia thành viên bảo đảm rằng TKT có quyền bày tỏ ý kiến một cách tự do về mọi vấn đề ảnh hƣởng tới các em, ý kiến của trẻ em phải đƣợc cân nhắc thích đáng phù hợp với độ tuổi và sự trƣởng thành của các em, trên cơ sở bình đẳng với các trẻ em khác, bảo đảm cung cấp cho các em sự trợ giúp phù hợp với lứa tuổi và với tình trạng KT để các em thực hiện quyền đó. Từ đây xuất hiện xu hƣớng GDHN và nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện thành công hòa nhập trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt.
Các trƣờng đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho TKT có cơ hội đƣợc bình đẵng với tinh thần “quyền lãnh đạo của ngƣời KT và không để ai bị bỏ lại phía sau”. e 9 Nhìn chung có thể chia các định hƣớng trong GD đặc biệt ở các nƣớc theo ba nhóm nhƣ sau: 1. Nhóm GDHN, ở Italia và Thụy Điển, lựa chọn chủ trƣơng chính sách không đi theo hƣớng của GD chuyên biệt mà tiếp cận GDHN thông qua hệ thống pháp luật. Nhóm cặp đôi, ở Hà Lan và Bỉ, GD chuyên biệt và GD chính quy thƣờng tồn tại song song, TKT đƣợc GD chuyên biệt trong những trƣờng có quy mô lớn mà trong đó có cả những lớp hội nhập, hệ thống pháp luật có cả những quy định về hệ thống quan điểm để thực hiện loại hình này.
Nhóm hệ thống đa dạng, ở các nƣớc Đan Mạch, Mỹ, Anh, hệ thống này đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngành GD đặc biệt và thƣờng xuyên đƣa ra những cải cách mới cho ngành [9]. Nhƣ vậy GD đặc biệt ở các nƣớc không giống nhau, vì nó phụ thuộc vào nền tảng văn hóa, điều kiện chính trị xã hội, hoàn cảnh lịch sử mỗi nƣớc, nhƣng tất cả đều hƣớng tới xu hƣớng chung, tất yếu là GDHN cho mọi đối tƣợng để trẻ có nhu cầu đặc biệt đƣợc sống trong môi trƣờng hòa nhập tốt nhất. Các nghiên cứu trong nước GD TKT ở Việt Nam ra đời muộn hơn nhiều so với GD TKT thế giới. Cũng trong cuốn “Giáo dục học trẻ khuyết tật”, tác giả Nguyễn Xuân Hải có viết lại nhƣ sau [9]: *Giai đoạn trước cách mạng tháng Tám: Chủ yếu là GD cho trẻ khiếm thính và trẻ khiếm thị.
Năm 1896 trƣờng điếc đầu tiên ra đời ở Bình Dƣơng do một linh mục ngƣời Pháp tên là Azenmar thành lập. Trƣờng mù đầu tiên ra đời đƣợc đặt tại bệnh viện chợ Rẫy - Sài Gòn do ông Nguyễn Văn Chí, một ngƣời mù từ Pháp trở về thành lập năm 1903 đến năm 1945 trƣờng giải thể [9]. * Giai đoạn 1945-1975: Giai đoạn này vẫn tiếp tục phát triển GD cho trẻ khiếm thính và khiếm thị, mở thêm một số cơ sở GD ra Hà Nội cụ thể: Dòng thánh Phalo ở nhà thờ Hàng Bột (nay thuộc đƣờng Tôn Đức Thắng). Cũng trong thời gian đó viện Tai - Mũi - Họng Trung ƣơng, Bộ Y tế mở lớp thí điểm dạy trẻ điếc [12].
GD trẻ khiếm thị ở giai đoạn này đƣợc quan tâm hơn: e 10 Năm 1952 tiền thân của trƣờng Nguyễn Đình Chiểu thành phố Hồ Chí Minh hiện nay dành cho trẻ mù đƣợc thành lập mang tên là trƣờng “Thiếu niên mù’[9]. * Giai đoạn 1975 đến nay: Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nƣớc, GD TKT đƣợc Nhà nƣớc quan tâm và nó đƣợc xem nhƣ là một nhiệm vụ tất yếu nhƣ nhiệm vụ GD phổ thông. Nhà nƣớc có rất nhiều sự đầu tƣ và cả hệ thống chính sách cũng nhƣ phát triển chuyên môn bằng cách tiếp tục gửi cán bộ đi đào tạo ở nƣớc ngoài về tật học, mặc khác tiếp tục mở rộng các cơ sở GD chuyên biệt trong nƣớc và thành lập các trung tâm nghiên cứu quốc gia về GD đặc biệt. Ngày 6/1/1975, Bộ GD đã có quyết định thành lập Tổ nghiên cứu GD TKT, sau đó trở thành Ban và Trung tâm nghiên cứu GD TKT thuộc Viện khoa học GD.
Năm 1995, Trung tâm Đào tạo và Phát triển GD đặc biệt thuộc trƣờng đại học Sƣ Phạm Hà Nội đƣợc thành lập. Năm 1998 - 2001, Vụ giáo dục mầm non (GDMN) đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình can thiệp sớm và GDHN cho TKT mầm non (MN) tại 3 nơi: Hà Nội, Nam Hà, Quảng Trị. Năm 2001, Khoa GD đặc biệt đầu tiên trong cả nƣớc đƣợc thành lập tại trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội. Với nhiệm vụ đào tạo giáo viên, chuyên gia GD đặc biệt.
Sau đó đến các trƣờng đại học Sƣ phạm: Quy Nhơn, Đà Nẵng, Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh. Có thể nói đây là cả một quá trình trăn trở, tìm tòi giải pháp cho GD TKT ở nƣớc ta. Bƣớc đầu là việc xây dựng, mở rộng hệ thống quy mô các trƣờng chuyên biệt, và những thử nghiệm về GDHN bắt đầu từ trƣớc năm 1990. Đến năm 1990, tiếp thu tƣ tƣởng về GDHN, Viện khoa học GD Việt Nam nghiên cứu và triển khai thử nghiệm cùng với sự hỗ trợ tài chính của các tổ chức quốc tế đã thu hút đƣợc một số lƣợng lớn TKT đi học hòa nhập tại các trƣờng phổ thông.
Hiện nay, cả nƣớc có khoảng 115 trung tâm chuyên chăm sóc và GD cho e 11 hơn 7.200 TKT, các cơ sở GD phổ thông cũng đã tiếp nhận trên 100.000 TKT học hòa nhập, 38/64 tỉnh thành đã thành lập Ban chỉ đạo GD TKT của các địa phƣơng, nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác này. 14/64 tỉnh thành (trong đó có Quảng Ngãi) đã thành lập mới hoặc chuyển đổi từ trƣờng chuyên biệt lên trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN cấp tỉnh và hơn 20 trung tâm tƣ nhân ra đời, nhiều địa phƣơng phối hợp chặt chẽ với các tổ chức trong và ngoài nƣớc làm tốt công tác chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho TKT đƣợc đi học dƣới mọi hình thức. Bộ GD đào tạo tổ chức nhiều cuộc hội thảo nâng cao nhận thức về GD TKT, tập huấn về GDHN cho cán bộ, giáo viên. Hệ thống văn bản pháp quy về GD TKT đƣợc điều chỉnh, bổ sung và cập nhật thƣờng xuyên.
Định hƣớng chiến lƣợc giai đoạn 2020-2025 hƣớng đến mỗi tỉnh thành có một trung tâm hỗ trợ hòa nhập. Xu thế của GD đặc biệt tại Việt Nam cũng là xu thế của thế giới đó là GDHN. Đây là một xu thế tất yếu, tiến bộ để TKT đƣợc bình đẳng, hòa nhập một cách tốt nhất, là việc khẳng định quyền của ngƣời KT. Tuy nhiên, sự quan tâm đến công tác GDHN còn rất hạn chế, cũng nhƣ những vƣớng mắc khó khăn trong công tác quản lý, những chính sách còn chƣa đồng bộ đến từng cơ sở GD.
Chính vì vậy, nghiên cứu, xác định tầm quan trọng của việc quản lý công tác GDHN nói chung và ở các trƣờng MN nói riêng nhằm đổi mới quản lý, góp phần nâng cao chất lƣợng GDHN đang là vấn đề đƣợc quan tâm rất nhiều.