Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở trường mầm non. Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường mầm non huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Chương 3: Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường mầm non huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƢỜNG Ở TRƢỜNG MẦM NON 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Trong công tác quản lý giáo dục, văn hóa nhà trường là một trong những vấn đề có tính rộng lớn và phức tạp, có sự ảnh hưởng lớn đến toàn bộ hoạt động của nhà trường. Do đó, quản lý văn hóa nhà trường đã thực sự thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Schein (2004), khi nghiên cứu văn hóa nhà trường đã cho rằng văn hóa nhà trường gồm 3 thành tố cấu thành.
Một là, những quá trình và cấu trúc hữu hình; Hai là, Hệ thống giá trị được tuyên bố; Ba là, những quan niệm chung. Ba thành tố này nằm trong mối quan hệ hữu cơ, tạo nên văn hóa nhà trường như một tổng thể. Nói cách khác, văn hóa nhà trường theo tác giả Edgar H. Schein gồm hai thành tố cơ bản: Thành tố vật chất và thành tố tinh thần [32].
Barth (2002) cho rằng: Văn hoá nhà trường tác động đến toàn bộ các thành viên trong nhà trường; tác động đến sự thành công, hiệu quả hoạt động của nhà trường. Tác giả nhấn mạnh: “Văn hoá nhà trường còn có sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn đến các hoạt động và việc học tập trong trường học hơn là tổng thống của quốc gia, bộ giáo dục, hội đồng nhà trường, hay thậm chí là hiệu trưởng, giáo viên và các Cha mẹ trẻ” [30]. Theo Peterson (2002) cho rằng: “Môi trường văn hoá nhà trường tích cực, các thành viên luôn có ý thức chung về sự kết nối giữa các cá nhân, ý thức được chia sẻ rộng rãi về sự tôn trọng và chăm sóc cho mọi người. Còn môi trường văn hóa chứa đựng các yếu tố tiêu cực sẽ tác động xấu đến hiệu quả giáo dục cũng như các hoạt động khác của nhà trường” [37].
7 Về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường, có các nghiên cứu như: Tác giả Kytle và Bogotch (2000), đã tìm hiểu hiệu quả cải cách của nhà trường thông qua một mô hình về văn hóa. Kết quả đã chỉ ra rằng, sự phát triển của nhà trường một cách bền vững phải dựa trên sự xây dựng văn hóa của nhà trường. Trong việc xây dựng văn hóa nhà trường, hiệu trưởng có vai trò quan trọng. Hiệu trưởng là người dẫn dắt tất cả các thành viên của nhà trường, đề ra mục đích phấn đấu của nhà trường, phải có phong cách lãnh đạo phù hợp thu hút được mọi người tham gia,… Xây dựng văn hóa nhà trường là xây dựng hệ giá trị, xây dựng các chuẩn mực và nguyên tắc hoạt động của nhà trường, là xây dựng phong cách ứng xử văn minh giữa các bộ phận và cá nhân trong nhà trường [36].(2000), đã tìm hiểu về hiệu quả hoạt động quản lý của hiệu trưởng.
Hiệu quả này phụ thuộc vào các giáo viên của nhà trường. Khi các giáo viên hợp tác thì hiệu trưởng quản lý các hoạt động của nhà trường có hiệu quả tốt. Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy mối quan hệ giữa giáo viên và hiệu trưởng trong nhà trường là một trong những thành tố quan trọng tạo nên văn hoá nhà trường, bởi giáo viên và hiệu trưởng là 2 đối tượng chính tham gia vào quá trình đào tạo và giáo dục nhà trường 31]. Trong công trình: Culture in Organizations của Joanne Martin 34] cá tác giả đã chú trọng vào những viễn cảnh khác nhau của văn hóa trong các tổ chức: “Khi một cá nhân liên hệ với một tổ chức, họ liên hệ với những chuẩn mực, những câu chuyện mà mọi nguời kể về những điều đang diễn ra, những thủ tục và nguyên tắc chính thức của tổ chức, những dạng hành vi chính thức của tổ chức, những nghi lễ, nhiệm vụ, hệ thống trả công lao động, những biệt ngữ… mà chỉ những nguời bên trong mới hiểu.
Những yếu tố này là một phần những cái gắn liền với văn hóa tổ chức”. Edgar Schein với công trình: Organizational Culture and Leadership [32] đã nhấn mạnh: VHTC là một dạng của những giả định cơ bản - đuợc sáng tạo, đuợc khám phá hoặc đuợc phát triển bởi các nhóm 8 khi họ học về cách thức giải quyết với những vấn đề của việc thích ứng với môi truờng bên ngoài và hội nhập bên trong. Những nghiên cứu trong nước Xây dựng văn hóa nhà trường luôn được Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo quan tâm và đã ban hành nhiều quyết định, chỉ thị như: - Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 33- NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước [1]. - Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24 tháng 3 năm 2015 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015- 2030 [2].
- Ngày 25/01/2017, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Công văn số 282/BGDĐT-CTHSSV về việc đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong trường học [5]. - Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 3 tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng Văn hóa ứng xử trong các trường học giai đoạn 2018 – 2025 [9]. - Quyết định số 1506/QĐ-BGDĐT ngày 31/5/2019, Quyết định ban hành kế hoạch thực hiện Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025” của ngành giáo dục [6]. Có nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu về văn hóa nhà trường như: - Phạm Minh Hạc (1999), trong sách Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI đã phân tích sâu về giáo dục nếp sống văn hóa cho sinh viên trong học tập, sinh hoạt, văn hóa, tiêu dùng và trong ứng xử 11].
- Phạm Minh Hạc, Hồ Sỹ Quý (2002) trong bài viết “Nghiên cứu con người, đối tượng và những hướng chủ yếu” cho rằng xây dựng văn hóa học 9 đường sẽ tạo điều kiện đưa tiêu chí Chân - Thiện - Mỹ vào nhà trường. Khi đưa các giá trị này vào nhà trường sẽ làm cho chất lượng dạy và học được nâng cao, sự phát triển của nhà trường sẽ tốt hơn” 12]. - Theo Phạm Thành Nghị, biểu hiện đáng lo ngại nhất là không ít giáo viên trình độ chuyên môn hạn chế, thiếu kiến thức và kỹ năng sư phạm, chậm đổi mới phương pháp giảng dạy. Một bộ phận giáo viên thiếu đạo đức nghề nghiệp, bắt học sinh phải học thêm, xúc phạm danh dự và thân thể của học sinh.
Trong nhiều nhà trường tồn tại bệnh thành tích. Điều này làm giảm chất lượng giáo dục của nhà trường, tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tình trạng kinh doanh giáo dục tồn tại ở một số trường có vốn đầu tư nước ngoài, các trường dân lập làm hạ thấp giá trị của VHNT 21, tr. - Trong công trình Quản lý giáo dục, tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2011), đã nói đến khái niệm về văn hóa quản lý, văn hóa sư phạm - VHNT và nhấn mạnh đến khía cạnh người quản lý nhà trường với việc xây dựng văn hóa quản lý 13].
Các nhà nghiên cứu cho rằng “Văn hoá tổ chức của một nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm”. Xây dựng văn hóa nhà trường cần chú ý đến các vai trò của người lãnh đạo (Hiệu trưởng): “người lãnh đạo và yếu tố thời gian”: “Những giá trị trong văn hóa tổ chức của nhà trường không phải chỉ là phương tiện mà còn là mục đích của bản thân trường đại học”. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Harold Koontz, Cyril O’Donnell, Heinz Weihrich đưa ra khái niệm: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực 10 cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” 16;tr. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” 10, tr. Theo Từ điển tiếng Việt: “Quản lý là tác động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp điều chỉnh phân công thực hiện mục tiêu chung” 22].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” 23]. Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” 14]. Như v y, quản lý là những tác đ ng có t chức, có đ nh hướng của chủ th quản lý lên đối tượng quản lý và khách th quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ h i của t chức đ đạt được mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến đ ng của môi trường, làm cho t chức v n hành có hiệu quả.
Quản lý giáo dục Tác giả M.