Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Giáo dục môi trường rất quan trọng ở tất cả các bậc học, chúng ta phải bắt đầu từ sớm, ngay từ lứa tuổi ấu thơ. Qua những tìm hiểu về chương trình giáo dục mầm non của một số nước trên thế giới, cho ta thấy việc GDMT cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non đang rất được quan tâm.
Mục đích là hình thành ở trẻ những hiểu biết, ý thức đúng đắn về môi trường, kỹ năng chăm sóc, bảo vệ môi trường, yêu quý thiên nhiên. Nội dung GDMT được tích hợp một cách tự nhiên vào chương trình nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ. Việc triển khai nội dung GDMT cho trẻ mẫu giáo ở các nước cũng có nhiều điểm khác biệt. Cụ thể như sau: Ở Anh, có rất nhiều nghiên cứu về giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ ở trường mầm non, nổi bật một số tác giả như: Ruth.
Wilson & Jodie Smith, Thomas Tanner, Harold R. Hungerford, Julie Davis, Trisha Maynard, Lynn M. các tác giả đã rất quan tâm đến GDMT thông qua hoạt động trải nghiệm ngoài trời vì nó cung cấp cho trẻ rất nhiều cơ hội khám phá đa dạng mà giáo viên có thể sẽ bỏ lỡ, bên cạnh đó nhấn mạnh việc thay đổi hành vi, ý thức của trẻ thông qua các nội dung GDMT ở trường mầm non. Các chương trình giáo dục môi trường đang diễn ra cho trẻ mẫu giáo rất khan hiếm.
Những cơ sở tồn tại có xu hướng liên kết với các cơ sở giáo dục mầm non hoặc môi trường giáo dục môi trường. Một nghiên cứu đã được thực hiện để xác định vị trí các chương trình giáo dục môi trường đang diễn ra cho trẻ mẫu giáo và xác định bản chất và đặc điểm của các chương trình đó. Tổng cộng có 12 chương trình đã được xác định; 9 đã được đưa vào nghiên cứu này. Hai cách tiếp cận khác nhau đã được sử dụng để thu thập dữ liệu: lượt truy cập trang web và khảo sát bằng văn bản.
Các phát hiện cho thấy rằng các chương trình giáo dục môi trường mầm non đang diễn ra, bất kể môi trường, có xu hướng chia 11 sẻ nhiều đặc điểm chung. Họ cũng có xu hướng phục vụ chủ yếu trẻ em từ người da trắng, tầng lớp trung lưu (Ruth. Tác giả Thomas Tanner (2010), Significant Life Experiences: A New Research Area in Environmental Education, The Journal of Environmental Education, volume 11 – Isue 4, 15 Jul 2010. Đối tượng đầu tiên anh ấy nhìn vào đó là những đứa trẻ đi ra ngoài mỗi ngày.
Nghiên cứu này bắt đầu với tiền đề rằng mục tiêu cuối cùng của giáo dục môi trường là duy trì một hành tinh đa dạng, tươi đẹp và giàu tài nguyên cho các thế hệ tương lai (Thomas Tanner, 2010).Hungerford (2013), trong tạp chí GDMT Changing Learner Behavior Through Environmental Education, The Journal ofEnvironmental Education 21 Oct 2013. Nội dung được hội nghị thông qua trong đó đề cập đến chủ đề “Giáo dục môi trường: Một hợp phần của phát triển bền vững”. Một số chuyên gia từ các quốc gia khác nhau đã được mời tham gia hội thảo này và chuẩn bị các bài báo xoay quanh chủ đề GDMT. Các thành viên tham gia hội thảo bao gồm: tiến sĩ Michael Archia, trưởng Ban giáo dục và Đào tạo về Môi trường, UNEP.
Nairobi, Kenya; Tiến sĩ Thilla Chellia, Khoa học giáo dục, Đại học Malaya, Kuala Lumpur, Malaysia: Bà Chodchoy Sophonpanvich, chủ tịch, Hiệp hội Phát triển cộng đồng và Môi tường Thái Lan: và Tiến sĩ. Harold Hungerford và Trudi Volk, Khoa Giáo dục, Đại học Nam Mis tại Carbondale. Chủ đề được hội thảo giải quyết là GDMT: thay đổi hành vi của người học, đưa giáo dục tinh thần về môi trường vào các trường mầm non và vai trò của các tổ chức phi chính phủ trong giáo dục môi trường. Mục đích cuối cùng của giáo dục là hình thành nhân cách con người (Harold R.
Ở Nhật Bản, tác giả Mariko Ichimi ABUMIYA (2018), trong bài luận Preschool Education and Care in Japan (Tạm dịch: Giáo dục và chăm sóc mầm non ở Nhật Bản) tác giả có đề cập GDMT chú trọng sự tương tác của trẻ với môi trường, thể hiện qua việc tương tác với các sự vật, các trò chơi tương tác, vui chơi tự do và các công việc lặt vặt là phần quan trọng mỗi ngày. Trẻ em được khuyến khích tham gia 12 vào các hoạt động BVMT diễn ra xung quanh. Điều này nhấn mạnh vào phát triển các kĩ năng xã hội từ thói quen cho đến thái độ (Mariko Ichimi ABUMIYA, 2018). Tác giả Julie Davis (2009), Revealing the research ‘hole’ of early childhood education for sustainability: a preliminary survey of the literature, Environmental Education Research.
Nghiên cứu Giáo dục Môi trường đã dành một vấn đề đặc biệt cho giáo dục thời thơ ấu và môi trường. Lĩnh vực này là một trong những “lỗ hổng” nghiên cứu mà Reid và Scott yêu cầu cộng đồng giáo dục môi trường có “can đảm để thảo luận”. Bài báo này dựa trên một cuộc khảo sát các tạp chí nghiên cứu của Úc và quốc tế về giáo dục môi trường và giáo dục mầm non đang tìm kiếm các nghiên cứu tại thời điểm của họ. Một số nghiên cứu khám phá mối quan hệ của trẻ nhỏ với thiên nhiên (giáo dục trong môi trường).
Một số ít hơn thảo luận về sự hiểu biết của trẻ nhỏ về các chủ đề môi trường (giáo dục về môi trường). Hầu như không có bất kỳ tập trung vào trẻ nhỏ như là tác nhân của sự thay đổi (giáo dục cho môi trường) (Julie Davis, 2009). Tóm lại, từ những nghiên cứu của các tác giả về hoạt động GDMT, ta thấy rõ rằng GDMT có vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non. Đây không chỉ là trách nhiệm của giáo viên trực tiếp dạy trẻ mà còn là trách nhiệm của gia đình và xã hội.
Bởi lẽ họ không chỉ đem lại nhiều nguồn lực đa dạng phong phú tiện ích và chi phí thấp mà còn đáp ứng nhu cầu học hỏi của trẻ em dựa vào những trải nghiệm gần gũi trong thực tế, từ đó giúp trẻ nâng cao hiểu biết và ý thức về bảo vệ môi trường làm cơ sở chuẩn bị hành trang cho trẻ trở thành người công dân tốt trong tương lai. Tuy vậy, một số nghiên cứu cho thấy còn mang tính lý thuyết, chưa đi sâu vào ứng dụng thực tiễn trong công tác giáo dục môi trường cho trẻ mầm non. Những nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, sự cần thiết của GDMT cho trẻ từ độ tuổi mầm non cũng được thể hiện rất rõ trong các văn bản, chỉ thị của Nhà nước, của chính phủ, quyết định của các Bộ, Ngành liên quan như: Luật Bảo vệ môi trường 2014, Luật Giáo dục 2019, Quyết định 1363/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ 17/10/2001, Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng chính phủ về việc Phê duyệt Chiến 13 lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.Cụ thể như sau: Chỉ thị số 36/CT-TW ngày 5/6/1998 về việc tăng cường công tác giáo dục BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Chỉ thị này đã nêu rõ vấn đề giáo dục BVMT là giải pháp quan trọng đầu tiên và định hướng cho toàn dân nâng cao quyết tâm BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Chỉ thị nhấn mạnh: “Các nội dung bảo vệ môi trường được đưa vào chương trình học của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân từ bậc học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến bậc đại học và bậc học cao hơn”. Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2001 của thủ tướng chính phủ về chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia năm 2010 và định hướng 2020. Bộ giáo dục và đào tạo đã ra chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/05/2005 về việc “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường”. Chỉ thị đã xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ nội dung của công tác giáo dục bảo vệ môi trường và đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể cho từng cấp học tham gia vào công tác này.
Công văn số 854/BTNMT-KH ngày 15/08/2014 của bộ tài nguyên và môi trường hướng dẫn xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường năm 2015 của các bộ, ngành, để triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường trong các cơ sở giáo dục và nhiệm vụ “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân”, bộ giáo dục và đào tạo hướng dẫn các cơ sở giáo dục đào tạo, các trường đại học và cao đẳng, các viện và trung tâm nghiên cứu trực thuộc bộ báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường. Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 được Quốc Hội thông qua ngày 23/6/2014 có nêu tại điều 1: luật này quy định về hoạt động BVMT, chính sách, biện pháp và nguồn lực để bảo vệ môi trường, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan tổ chức, gia đình và các cá nhân trong bảo vệ môi trường; cũng trong khoản 1 điều 6 của luật này nhiêu rõ: “Một trong những hoạt động được khuyến khích là truyền thông, giáo dục và vận động mọi người tham gia bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học” hay “phổ biến, giáo dục pháp luật bảo vệ môi trường phải được thực hiện thường xuyên và rộng rãi” theo điều 14 154. Trong lĩnh vực giáo dục, GDMT trong trường MN cũng đã được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như các tác giả: Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thuỷ có bài viết nói về “Những kiến thức cơ bản về môi trường” trong quyển Sổ tay giáo viên mầm non của NXB Giáo dục năm 2006, nhận định rằng: Ngành GDMN đã có nhiều nghiên cứu nhằm thực hiện mục tiêu của dự án trong đào tạo giáo viên, cũng như trong quá trình giáo dục trẻ. Một trong những nỗ lực này là sự hợp tác của giảng viên các trường cao đẳng sư phạm mầm non trong việc nghiên cứu lồng ghép nội dung giáo dục BVMT vào chương trình chăm sóc - giáo dục trẻ trong trường mầm non.
Kết quả nghiên cứu và thực nghiệm được thể hiện trong bộ “Sổ tay giáo viên mầm non” về lĩnh vực giáo dục bảo vệ môi trường.