mở đầu cho một nền giáo dục tốt”. Tại Đại hội lần thứ VII, VIII, IX, XI đều nhấn mạnh về mục tiêu, nhiệm vụ chăm lo, phát triển GDMN. Hội nghị Trung Ương 8 Khóa XI đã ban hành Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản GD&ĐT đã chỉ ra mục tiêu cụ thể đối với GDMN:“… Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non.
Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục” [4]. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Nhà giáo dục người Ý - Tiến sĩ Maria Montessori (1879-1952), bà đã nghiên cứu rất thành công phương pháp GD mới đó là phương pháp GD thực tiễn mang tính đột phá. Phương pháp này còn được gọi là phương pháp GD Montessori. Phương pháp này đã nhanh chóng được phổ biến và thu được thành công vang dội trên khắp thế giới.
Mục tiêu GD của bà là: tạo điều kiện tối đa để trẻ trau dồi niềm đam mê học hỏi, thông qua thực hành thường xuyên hình thành các kỹ năng và phát triển năng khiếu toàn diện cho từng trẻ. Nền tảng của phương pháp Montessori là tiến trình GD đặc biệt dựa vào việc học qua trực quan sinh động. Trong đó GV chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, hỗ trợ và định hướng cho trẻ thực hiện các hoạt động, nhiệm vụ được giao. Tiến sĩ Maria Montessori đã đưa ra một loạt các quy luật có liên quan đến sự phát triển của trẻ mầm non, cụ thể là: quá trình phát triển trẻ em 8 có nhiều giai đoạn.
Trong đó: từ 0-6 tuổi là giai đoạn thứ nhất. Theo bà, trong giai đoạn này, trẻ không có các hoạt động tâm lý, ý thức mà chúng chỉ tiếp xúc với thế giới bên ngoài một cách vô thức. Bà gọi đây là gia đoạn “phôi thai tâm lý”. Tiếp theo trẻ từ 3-6 tuổi là giai đoạn hình thành tính cách.
Lúc này, các nhà GD, các thầy giáo, cô giáo và người lớn cần phải quan sát trẻ thật kỹ, tìm cách hiểu được thế giới nội tâm của trẻ, phải yêu thương và tôn trọng đối với tính cách của trẻ, giúp cho trẻ có thể phát triển một cách tự nhiên [25]. Tác giả Lê Thu Hương trong cuốn “Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” (năm 2014) đã nêu trong quan điểm GD tích hợp: Theo quan điểm sư phạm tích hợp các quá trình GD được tổ chức, xâm nhập, đan xen vào nhau tạo thành một thể thống nhất, tác động đồng bộ đến các mặt phát triển của trẻ thành một chỉnh thể toàn vẹn. Trong đó, nội dung chăm sóc, sức khỏe, nuôi dưỡng - giáo dục và bảo vệ trẻ được kết hợp một cách chặt chẽ, nhờ đó hiệu quả GD được nhân lên. Sự phát triển của trẻ lứa tuổi MN xảy ra ở nhiều lĩnh vực, các lĩnh vực phát triển của trẻ có mối liên hệ và liên quan chặt chẽ với nhau.
Sự phát triển của lĩnh vực này có ảnh hưởng đến lĩnh vực phát triển khác và ngược lại. Các lĩnh vực phát triển ở trẻ cần được tác động một cách đồng bộ theo quan điểm sư phạm tích hợp (Cách tiếp cận tích hợp theo chủ đề trong GDMN được hiểu là cách thức cung cấp sự định hướng mở, linh hoạt, cho phép GV tổ chức các hoạt động xoay quanh các chủ đề bằng nhiều hình thức phối hợp một cách tự nhiên qua hoạt động chơi, trải nghiệm, khám phá môi trường tự nhiên, xã hội, qua hoạt động phát triển vận động, âm nhạc, tạo hình, qua đọc thơ, kể chuyện, làm quen với đọc, viết, làm quen với toán vv). Cách tiếp cận này cho phép GV có thể điều chỉnh các hoạt động GD trong chủ đề, trong tuần, trong ngày để dạy trẻ một cách linh hoạt hơn. Trên cơ sở dạy trẻ theo kế hoạch với các tình huống xảy ra tình cờ, ngẫu nhiên trong cuộc sống hàng ngày trẻ sẽ hứng thú, sẽ làm cho không khí lớp học trở nên sinh động.
Đây là mô hình GD theo quan điểm sư phạm tích hợp và với cách tiếp cận phát triển, lấy trẻ làm trung tâm được nhiều nước lựa chọn áp dụng [31]. Tác giả Hoàng Thị Dinh đã nghiên cứu sâu về việc áp dụng quan điểm GD 9 lấy trẻ làm trung tâm. Năm 2017 bà đã biên soạn cuốn “Hướng dẫn thực hành áp dụng quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong trường mầm non”. Với cuốn tài liệu này bà đã giúp GV nâng cao năng lực thực hành áp dụng quan điểm này trong các hoạt động chăm sóc, GD trẻ mầm non một cách hiệu quả [24].
Tác giả Lê Thu Hương và Trần Lan Hương cũng có nhiều nghiên cứu khoa học về nâng cao chất lượng và thực hiện chương trình trong GDMN như: “Những điểm mới của chương trình giáo dục mầm non” (Lê Thu Hương) và “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục mầm non” (Trần Lan Hương) [31]. Một số Luận văn Thạc sĩ khoa học QLGD đã nghiên cứu hoạt động QLGD tại các cơ sở GDMN tiêu biểu như: Luận văn Thạc sĩ của tác giả An Thị Bích Đào - 2016 với đề tài“Quản lý hoạt động giáo dục ở trường mầm non Vĩnh Quỳnh - huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay”. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Vũ Thị Thu Thảo, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 “Một biện pháp quản lý hoạt động GD trẻ mẫu giáo của Hiệu trưởng các trường mầm non quận 10 - Thành phố Hồ Chí Minh”. Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh về “Quản lý bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động học theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm cho GVMN quận Hồng Bàng, Thành phố Hải Phòng”.
Từ những nghiên cứu của các nhà khoa học nói trên đã cho thấy: hoạt động giáo dục trẻ MG theo quan điểm GD lấy trẻ làm trung tâm ở trường MN đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu từ rất sớm và có những nguyên tắc rất cụ thể đã được áp dụng rộng rãi cả trong lý luận dạy học hiện đại. Những khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Nhà khoa học Harold Koontz người Mỹ cho rằng: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiếm thức thì quản lý là khoa học [25].
Trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu trong quản lý” (năm 1987) tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống, là quá trình tác động đến hệ thống nhằm 10 đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”. Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong cuốn “Quản lý giáo dục một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (năm 2015) đã định nghĩa: “Hoạt động quản lý giáo dục là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [18]. Như vậy, ta thấy: Quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
Quản lý vơi tư cách là một hành động thì quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý để khai thác có hiệu quả những tiềm năng và cơ hội tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức đặt ra. Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định. Quản lý có 4 chức năng: Chức năng lập kế hoạch; chức năng tổ chức; chức năng chỉ đạo; chức năng kiểm tra. Bốn chức năng này có quan hệ mật thiết và biện chứng với nhau.
Các chức năng này xuyên suốt trong tất cả các khâu của quá trình quản lý. Để thành công trong quản lý thì nhà quản lý phải thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chức năng quản lý này. Quản lý giáo dục Trong tác phẩm Theories of Education Managemt, PCP, London năm 1995 tác giả Bush. T cho rằng: “Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [18].
Ngày nay, công tác GD không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà còn rộng ra cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là GD thế hệ trẻ cho nên quản lý GD được hiểu là sự điều hành hệ thống GD quốc dân, các trường trong hệ thống GD quốc dân. Theo tác giả Trần Kiểm “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống có kế hoạch có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm bảo đảm sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng 11 những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quản lý giáo dục, của sự phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em” [32]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc trong cuốn: “Một số vấn đề GD và khoa học giáo dục” (năm 1986) đã viết: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra là quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy học nhằm đưa nhà trường từ trang thái này sang trang thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định” [26].
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc trong cuốn “Một số vấn đề GD và khoa học GD” (năm 2015) thì: Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhắm đạt tới mục tiêu GD đã đề ra [18].