phần mở đầu, kết luận và nội dung chính của đề tài đƣợc kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của phân cấp quản lý nhà nƣớc về giáo dục. Chƣơng 2: Thực trạng phân cấp quản lý nhà nƣớc về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Các giải pháp nhằm đổi mới, tăng cƣờng phân cấp quản lý nhà nƣớc về giáo dục ở tỉnh Bắc Ninh. 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN CẤP QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ GIÁO DỤC 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Giáo dục Hiện tại có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ giáo dục: Quan điểm thứ nhất, giáo dục là một hoạt động đặc trƣng của xã hội loài ngƣời. Triết học Mác – Lênin khẳng định xã hội là hình thái vận động cao nhất của thế giới vật chất. Hình thái vận động này lấy con ngƣời và sự tác động lẫn nhau giữa con ngƣời với con ngƣời làm nền tảng.
Xã hội là biểu hiện tổng số những mối quan hệ và các quan hệ của các cá nhân “là phƣơng pháp của sự tác động qua lại giữa những con ngƣời [38, tr. Quan điểm thứ hai, giáo dục là hoạt đông có tổ chức, có mục đích nhằm đào tạo con ngƣời, làm cho họ trở thành những con ngƣời có năng lực tiêu chuẩn nhất định [34, tr. Quan điểm thứ ba, giáo dục là một hiện tƣợng xã hội đặc biệt bản chất của giáo dục là truyền đạt lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài ngƣời, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá nhân loại và dân tộc đƣợc kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài ngƣời không ngừng tiến lên [13. tr 4] Quan điểm thứ tƣ, “ giáo dục bao hàm cả quá trình hoạt động tự phát và tự giác, trong đó quá trình tự giác đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách toàn diện của con ngƣời … đó là những hoạt động có tổ chức có, có mục đích, có kế hoạch, có nội dung, có chƣơng trình , mục tiêu trong toàn bộ hệ thống giáo dục cũng nhƣ trong mỗi nhà trƣờng.
Gióa dục không 15 chỉ là một hoạt động mà còn là một thực thể, một thiết chế xã hội. Trong các thời đại, giáo dục luôn là những thiết chế xã hôi quan trọng và đƣợc nhiều chính phủ coi trọng và đầu tƣ, phát triển cho giáo dục nhƣ là quốc sách, là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nhiệm vụ quan trọng để thúc đẩy và trấn hƣng đất nƣớc” [1, tr. Nhƣ vậy, giáo dục có thể hiểu là điều kiện không thể thiếu đƣợc cho sự phát triển của mọi cá nhân con ngƣời và xã hội loài ngƣời. Giáo dục có tính chất của tính chất xã hội là tính chất phổ biến và vĩnh hằng, tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc.
các chức năng xã hội của giáo dục thông qua sự tác động của giáo dục tới quá trình xã hội khác xét về mặt xã hội học: Chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng chính trị - xã hội, chức năng tƣ tƣởng – văn hoá. Khái niệm quản lí nhà nƣớc về giáo dục Quản lý nhà nƣớc là một lĩnh vực quản lý đặc biệt, đó là loại quản lý gắn liền trực tiếp với hệ thống các cơ quan thuộc bộ máy quyền lực nhà nƣớc; gắn liền với việc sử dụng quyền lực nhà nƣớc, một loại quyền lực đặc biệt khác hẳn với các loại quyền lực khác. Với nghĩa bao quát nhất thì khái niệm quản lý nhà nƣớc đƣợc hiểu là tổng thể Nhà nƣớc với tƣ cách là một tổ chức quyền lực mang tính pháp quyền, là tổ chức công quyền quản lý toàn bộ xã hội bằng các hoạt động lập pháp, hành pháp, tƣ pháp. Nhƣng theo nghĩa thực tiễn, cụ thể, thì quản lý nhà nƣớc không những bao gồm hoạt động lập pháp và tƣ pháp của Nhà nƣớc, mà còn có hoạt động thực thi quyền hành pháp [41, tr 65] đƣợc gọi chung là hành chính nhà nƣớc.
Đó chính là những hoạt động nhằm làm cho pháp luật đã đƣợc ban hành có hiệu lực (đƣợc thực thi). Hoạt động này đƣợc thực hiện thông qua một hệ thống các cơ quan tạo nên bộ máy này vận hành tốt nhất, đều đặn, chính xác 16 nhất đạt đƣợc mục tiêu của nhà nƣớc đó là làm cho pháp luật nhà nƣớc có hiệu lực. Vậy quản lý nhà nƣớc là một phạm trù rộng. Đó là việc sử dụng quyền lực nhà nƣớc một cách toàn diện, bao gồm cả lập pháp, hành pháp và tƣ pháp để quản lý mọi vấn đề của xã hội.
Trên đây là khái niệm quản lí nhà nƣớc, còn khái niệm quản lí nhà nƣớc về giáo dục đƣợc thể hiện nhƣ sau: Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới dù lớn hay nhỏ, dù giàu hay nghèo, dù phát triển hay đang phát triển, bao giờ cũng phải quan tâm đến giáo dục, mà trƣớc hết đó là quản lý nhà nƣớc về giáo dục bởi vì giáo dục là một hoạt động xã hội rộng lớn có liên tục trực tiếp đến lợi ích, nghĩa vụ và quyền lợi của mọi ngƣời dân, mọi tổ chức kinh tế - xã hội, đồng thời có tác động mạnh mẽ đến tiến trình phát triển nhanh hay chậm của một quốc gia. Vì thông qua quản lý nhà nƣớc về giáo dục, việc thực hiện các chủ trƣơng chính sách giáo dục quốc gia, nâng cao hiệu quả đầu tƣ cho giáo dục, chú ý thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lƣợng giáo dục… mới đƣợc triển khai thực hiện có hiệu quả. “Quản lý nhà nƣớc về giáo dục và đào tạo là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nƣớc đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo do các cơ quan quản lý giáo dục và đào tạo của Nhà nƣớc từ trung ƣơng đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nƣớc trao quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì kỉ cƣơng, thỏa mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của Nhà nƣớc” [36, tr54] 17 Có ba bộ phận chính nổi lên trong khái niệm quản lý nhà nƣớc về giáo dục, đó là chủ thể của quản lý nhà nƣớc về giáo dục ; khách thể và đối tƣợng của quản lý nhà nƣớc về giáo dục; mục tiêu quản lý nhà nƣớc về giáo dục: Chủ thể quản lý nhà nƣớc về giáo dục là các cơ quan quyền lực nhà nƣớc (cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tƣ pháp), tuy nhiên chủ thể trực tiếp là bộ máy quản lý giáo dục và đào tạo từ trung ƣơng đến cơ sở (những vấn đề này đƣợc cụ thể hóa ở điều 100, Luật Giáo dục 2005 [18,tr 30] và tại điều 100, Luật giáo dục sửa đổi năm 2009. Khách thể của quản lý nhà nƣớc về giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dân, là mọi hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội.
Về tổng thể mục tiêu quản lý nhà nƣớc về giáo dục đó là việc bảo đảm trật tự kỷ cƣơng trong hoạt động giáo dục, để thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài cho xã hội và hoàn thiện, phát triển nhân cách của công dân. Tuy nhiên ở mỗi cấp học, ngành học chúng ta đã cụ thể hóa mục tiêu của nó trong Luật Giáo dục và điều lệ trƣờng học. Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, tại Điều 61, đã xác định rõ “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài” và “Nhà nƣớc ƣu tiên đầu tƣ và thu hút các nguồn đầu tƣ khác cho giáo dục; chăm lo cho giáo dục mầm non; đảm bảo giáo dục tiểu học là bắt buộc; Nhà nƣớc không thu học phí; từng bƣớc phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề ngiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý” (Điều 61) [15, tr. 357] Theo Luật Giáo dục năm 2005 luật sửa đổi 2009 tại Điều 14, đã quy định: “Nhà nƣớc thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chƣơng trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi 18 cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lƣợng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cƣờng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cơ sở giáo dục” [19, tr.
Từ đó, ta có thể rút ra khái niệm chung nhất quản lí nhà nƣớc về giáo dục là sự quản lí của của các cơ quan quyền lực nhà nƣớc, của bộ máy quản lí giáo dục từ trung ƣơng đến cơ sở đối với hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài cho đất nƣớc và hoàn thiện nhân cách. Khái niệm phân cấp quản lý nhà nƣớc về giáo dục Phân cấp là một thuật ngữ đƣợc sử dụng trong khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật ở nƣớc ta. Trên nguyên lý chung, phân cấp trong hoạt động quản lý nói chung và quản lý hành chính nhà nƣớc nói riêng là một phạm trù hay mô hình quản lý tƣơng phản với mô hình quản lý (bao gồm cả quản lý hành chính nhà nƣớc) mang tính chất tập trung. Theo từ điển tiếng việt – NXB Đà Nẵng 2003, “Phân cấp quản lý là giao bớt một phần quyền quản lý cho cấp dƣới đồng thời quy định quyền hạn và nhiệm vụ cho mỗi cấp” [39.
tr 770] Theo từ điển Bách khoa Việt Nam – NXB Từ điển Bách khoa Hà Nội 2003 “Phân cấp quản lý đƣợc sử dụng trong luật hành chính là giao công việc về quản lý nhà nƣớc cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc các cấp từ trung ƣơng xuống địa phƣơng, cơ sở. Phân cấp quản lý đƣợc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý chung, quản lý ngành, quản lý địa phƣơng. Nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp đƣợc quy định rõ ràng trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp với quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ vừa đảm bảo sự điều hành tập trung, vừa đảm bảo phát huy dân chủ, 19 phát huy tính chủ động, năng động của cơ sở địa phƣơng, của ngành” [40.