CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về lập luận 1. Khái niệm Trên thế giới, khái niệm lập luận đã được nghiên cứu từ rất sớm. Ban đầu, lập luận được coi là một hiện tượng liên quan đến nghệ thuật hùng biện.
Sau đó, phương pháp này được tìm hiểu dưới góc nhìn logic học. Đến hiện tại, lập luận mới thực sự được nghiên cứu dưới góc nhìn của ngữ dụng học. Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra các lí lẽ nhằm thuyết phục người nghe vào một hệ thống luận cứ nào đó để rút ra một (một số) kết luận hay chấp nhận một (một số) kết luận nào đó” [9, tr.
Theo Đỗ Hữu Châu: “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó, rút ra một (một số) kết luận hay chấp nhận một (một số) kết luận nào đó.” [8] Nguyễn Thị Nhịn (2001) đưa ra khái niệm: “Lập luận là người nói hay viết đưa ra một hay một số lí lẽ mà người viết cho là luận cứ nhằm dẫn dắt người đọc hay người nghe vào một kết luận nào đó mà người nói hay người viết mong muốn hướng tới”. Chu Thị Thủy An, Võ Thị Ngọc (2014) khảng định: “Lập luận là chiến lược hội thoại nhằm dẫn dắt người nghe vào một kết luận do người nói đưa ra hoặc có ý định dẫn dắt người nghe vào kết luận ấy "[3, tr. Mỗi nhà nghiên cứu về lập luận diễn đạt theo các cách khác nhau nhưng vẫn cùng quan điểm sau: Lập luận là thông qua ngôn ngữ lời nói đưa ra những luận cứ (lý lẽ) thuyết phục người được giao tiếp đồng ý một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận mà người (nói viết) mong muốn hướng tới.
9 Trong mọi loại hình giao tiếp, nhằm đạt được mục đích giao tiếp đã xác định, người nói, người viết cần phải phát huy kĩ năng lập luận của mình. Như vậy, dù diễn đạt bằng cách nào thì các nhà nghiên cứu đều có điểm thống nhất rằng: Lập luận là đưa ra lí lẽ để người cùng giao tiếp đi đến một kết luận hoặc chấp nhận một kết luận mà người nói (người viết) muốn hướng tới. Vì thế, trong hoạt động giao tiếp (dù trực tiếp hay gián tiếp), muốn đạt được mục đích thì người nói phải có một chiến lược giao tiếp thích hợp mà lập luận là một trong các chiến lược ấy. Đặc điểm của lập luận Theo nghiên cứu của Ngữ dụng học, trong quá trình tiến hành hoạt động giao tiếp, để đạt được mục đích giao tiếp, người nói (người viết) phải lựa chọn chiến lược giao tiếp phù hợp và đạt được hiệu quả cao.
Trong đó, lập luận là một chiến lược giao tiếp được sử dụng nhiều nhất và quan trọng nhất. Yếu tố của lập luận bao gồm: luận cứ (lí lẽ), kết luận (kết luận có thể là hàm ẩn hoặc tường minh rõ ý) và các chỉ dẫn lập luận. Các công trình nghiên cứu cho thấy, lập luận là quan hệ xuyên suốt trong một đoạn văn, một văn bản hay một phát ngôn. Quan hệ đó đi từ luận cứ đến kết luận hay ngược lại.
Thành phần của lập luận Một lập luận thường có hai phần: luận cứ và kết luận. Luận cứ là những lí lẽ, dẫn chứng diễn đạt bằng các phát ngôn. Luận cứ có thể thông tin miêu tả hay một định luật. Quan hệ lập luận có thể đồ họa như sau: P r Trong đó: p là lí lẽ hay luận cứ.
r là kết luận. Vị trí và số lượng của các thành phần trong lập luận Luận cứ và kết luận là các thành phần của lập luận. Trong một lập luận, kết luận đứng đầu, đứng cuối hay đứng giữa luận cứ còn tùy vào nội dung của văn bản. - Kết luận đứng ở vị trí đầu trong lập luận 10 Ví dụ 1: Cà Mau là đất mưa dông.
Vào tháng ba, tháng tư, sớm nắng chiều mưa. Đang nắng đó, mưa đổ ngay xuống đó. Mưa hối hả, không kịp chạy vào nhà. Mưa rất phũ, một hồi rồi tạnh hẳn.
Trong mưa thường nổi cơn dông (Tiếng Việt 5 tập 1 Đất Cà Mau – theo Mai Văn Tạo )"[18, tr. Lập luận trên kết luận đứng trước “ Cà Mau là đất mưa dông” là hệ quả được nhấn mạnh. Luận cứ: “Vào tháng ba, tháng tư, sớm nắng chiều mưa. Đang nắng đó, mưa đổ ngay xuống đó.
Mưa hối hả, không kịp chạy vào nhà. Mưa rất phũ, một hồi rồi tạnh hẳn. Trong mưa thường nổi cơn dông” Là thông tin miêu tả giải thích cho nó đứng ở đằng sau. Ví dụ 2: Sẻ non rất yêu bằng lăng và bé Thơ.
Nó muốn giúp bông hoa. Nó chắp cánh, bay vù về phía cành bằng lăng mảnh mai. Nó nhìn kĩ cành hoa rồi đáp xuống. Cành hoa chao qua, chao lại.
Sẻ non cố đứng vững. Thế là bông hoa chúc hẳn xuống, lọt vào khuôn cửa sổ. Lập luận này, kết luận r: “Sẻ non rất yêu bằng lăng và bé Thơ” đứng trước. Luận cứ giải thích cho kết luận là P: “Nó muốn giúp bông hoa.
Nó chắp cánh, bay vù về phía cành bằng lăng mảnh mai. Nó nhìn kĩ cành hoa rồi đáp xuống. Cành hoa chao qua, chao lại. Sẻ non cố đứng vững.
Thế là bông hoa chúc hẳn xuống, lọt vào khuôn cửa sổ. - Kết luận đứng ở vị trí giữa trong lập luận Ví dụ 3: Hằng ngày, nắng xuyên qua những tán lá trong khu vườn trước nhà tạo thành những vệt sáng lóng lánh rất đẹp. Nhưng phòng ngủ của tất cả mọi người trong gia đình lại ở phía không có nắng. Bà nội rất thích nắng nhưng nắng không lọt vào phòng bà.
Na chưa biết làm cách nào để đem nắng cho bà. Trong lập luận này, kết luận r: “Bà nội rất thích nắng nhưng nắng không lọt vào phòng bà” đứng giữa hai luận cứ p: “Hằng ngày, nắng xuyên qua những tán lá trong khu vườn trước nhà tạo thành những vệt sáng lóng 11 lánh rất đẹp. Nhưng phòng ngủ của tất cả mọi người trong gia đình lại ở phía không có nắng” và P:” Na chưa biết làm cách nào để đem nắng cho bà”. Ví dụ 4: Đấy là lúc tàu Thống Nhất chạy xuyên qua núi, thôi chiếu phim, chuyển qua diễn trò ảo thuật, biến ngày thành đêm.
Rồi phim lại chiếu, màn hình cửa sổ lại hiện ra rừng xanh với cát trắng. Có những lúc phim chiếu chậm dần rồi dừng hẳn. Màn hình cửa sổ tàu Thống Nhất hiện ra đủ thứ quà cùng những lời mời ngọt ngào. Kẹo mè xửng, nho Mường Mán, củ đậu Tháp Chàm,.
thứ gì cũng ngon. Trong lập luận trên, kết luận r : “Màn hình cửa sổ tàu Thống Nhất hiện ra đủ thứ quà cùng những lời mời ngọt ngào”đứng giữa. Luận cứ p đứng trước kết luận: “Đấy là lúc tàu Thống Nhất chạy xuyên qua núi, thôi chiếu phim, chuyển qua diễn trò ảo thuật, biến ngày thành đêm. Rồi phim lại chiếu, màn hình cửa sổ lại hiện ra rừng xanh với cát trắng.
Có những lúc phim chiếu chậm dần rồi dừng hẳn có giá trị giải thích nguyên nhân dẫn đến kết luận r. Luận cứ q đứng sau kết luận: “Kẹo mè xửng, nho Mường Mán, củ đậu Tháp Chàm,. thứ gì cũng ngon.” có giá trị cụ thể hóa, làm rõ hơn một khía cạnh nhỏ trong kết luận r. - Kết luận đứng ở sau luận cứ trong lập luận Ví dụ 5: Để những ngọn đèn chiếu sáng đêm đêm, những người canh giữ hải đăng phải thay phiên nhau kiểm tra, bảo dưỡng thường xuyên.
Có những đêm mưa gió, họ phải buộc dây bảo hiểm quanh người, trèo lên đỉnh cột đèn xem xét. Bất kể ngày đêm, mưa nắng, trời yên biển lặng hay dông tố bão bùng, họ luôn sẵn sàng khắc phục mọi sự cố.( Những ngọn hải đăng – Tiếng việt 3, tập 1 tr. Trong lập luận trên: Kết luận r: “họ luôn sẵn sàng khắc phục mọi sự cố.” về đứng sau. 12 Kết luận này được xem như là hệ quả của luận cứ p: “Để những ngọn đèn chiếu sáng đêm đêm, những người canh giữ hải đăng phải thay phiên nhau kiểm tra, bảo dưỡng thường xuyên.
Có những đêm mưa gió, họ phải buộc dây bảo hiểm quanh người, trèo lên đỉnh cột đèn xem xét.” đứng trước nó. Ví dụ 6: “ Ông ngoại cứ đứng trầm ngâm trước những bức vẽ chạm trổ tinh xảo. Bàn tay ông run run khi chạm vào các cột đá nhuốm màu thời gian. Dương nhìn ông, cảm xúc yêu thương lòng trào lên khó tả”.
Trong lập luận trên: Luận cứ p nêu nguyên nhân, lí do: “Ông ngoại cứ đứng trầm ngâm trước những bức vẽ chạm trổ tinh xảo. Bàn tay ông run run khi chạm vào các cột đá nhuốm màu thời gian.” đứng trước. Kết luận r: “Dương nhìn ông, lòng trào lên cảm xúc yêu thương khó tả” như là hệ quả tất yếu đứng ở sau. Ví dụ 7: “Trong giấc mơ, Nguyên thấy mình và Thảo tình cờ gặp đám mây đang nằm ngủ trên đỉnh núi.
Hai bạn nhẹ nhàng leo lên và nghĩ rằng đám mây sẽ cõng mình lên trời. Đám mây thức dậy, đưa hai bạn lên tận trời xanh. Xung quanh hai bạn là những đám mây nhiều sắc màu. Gần đó, cầu vồng lung linh, rực rỡ.
Cả hai reo lên, thích thú”:. Trong lập luận trên: Luận cứ p nêu nguyên nhân, lí do: “Trong giấc mơ, Nguyên thấy mình và Thảo tình cờ gặp đám mây đang nằm ngủ trên đỉnh núi. Hai bạn nhẹ nhàng leo lên và nghĩ rằng đám mây sẽ cõng mình lên trời. Đám mây thức dậy, đưa hai bạn lên tận trời xanh.
Xung quanh hai bạn là những đám mây nhiều sắc màu. Gần đó, cầu vồng lung linh, rực rỡ.” đứng trước. Kết luận r: “Cả hai reo lên, thích thú” như là hệ quả tất yếu đứng ở sau. Quan hệ lập luận.
13 Các thành phần của lập luận có quan hệ với nhau gọi là quan hệ lập luận. Trong quan hệ lập luận lí lẽ được gọi là luận cứ. Có thể nói mối quan hệ lập luận giữa luận cứ với luận cứ, giữa luận cứ với kết luận, giữa hay nhiều lập luận trong một đoạn văn. Luận cứ có thể là thông tin miêu tả hay là một định luật, một nguyên lí xử thế nào đấy.
- Con mèo này màu đen (p) (nên) rất dễ sợ (r). P là một thông tin miêu tả.