Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HẠNH PHÚC Ở TRUONG CUA HỌC SINH 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về hạnh phúc Trong những năm 50 của thé ki XX, các nha tư tưởng nhân văn như Carl Roger, Erich Fromm va Abraham Maslow đã phát triển các lý thuyết tập trung vào hạnh phúc và những khía cạnh tích cực của bản chất con người. tuy nhiên những kết quả nghiên cứu đầu tiên về hạnh phúc lại đến từ các ngành khoa học khác như thần kinh học, kinh tế học, xã hội học,.Các tác giả đã tập trung chủ yếu vào các van đề như: nguồn gốc của hạnh phúc, các yếu cô ảnh hưởng đến hạnh phúc, câu trúc của hạnh phúc cũng như tác động của hạnh phúc đối với đời sống mỗi cá nhân.
Khi tìm hiểu nguồn gốc của hạnh phúc, các nhà khoa học đã tiến hành nhiều thí nghiệm khác nhau và chỉ ra rằng hạnh phúc xaye ra khi nhiều chất hóa học trong cơ thê tương tác với nhau. Năm 1872, bác sĩ Camilo Golgi bắt đầu khám phá thành phần nền tảng nhất của bộ não là neuron và đi đến kết luận chính neuron chứ không phải tác nhân nảo tạo ra cảm xúc hạnh phúc. Đến 1954, hai nhà phân tâm học Janes Olds và Perter Milner đã gây chấn động khi phát hiện ra cơ chế sinh ra hạnh phúc: Nghiên cứu cơ chế hoạt động của não chuột, khi nhà khoa học đặt một điểm cực vào một nơi ma sau này họ phát hiện ra đó chính là trung tâm tạo ra khoái cảm trong não. Sau khi kích điện vào đó, đám chuột có hành động tương tự như khi động dục.
Không chỉ neuron, một số chất hóa học trong cơ thể cũng góp phần đem lại cảm gác thỏa mãn như serotonin, dorpamin và endorphin- một morphin tự nhiên trong cơ thé. Nghiên cứu cho thấy nếu endorphin rơi đúng vào các tế bao cảm nhận của hệ thần kinh như chìa khóa lọt đúng 6 khóa thì cảm giác hưng phan dat đến trạng thái cao nhất [11]. Cảm giác hạnh phúc không đơn thuần khai sinh từ não mà phải có sự kết hợp của các chất hóa học trong cơ thé. Nhu vậy, ở nửa đầu thế kỷ XIX, các nghiên cứu về hạnh phúc chủ yếu được tập trung ở khía cạnh sinh học, kết quả cho thấy cảm giác hạnh phúc được sinh ra từ não và có sự kết hợp với các chất háo học trong cơ thể.
Tác phẩm được coi là xuất hiện sớm nhất trong nghiên cứu khoa học về hạnh phúc là “The Science of Happiness” của một nhóm tác giả xuất bản tại London năm 1861. Đến năm 1909, một cuốn sách cùng tên của Henry S.Williams xuất bản tại New Youk tiếp tục gây được sự chú ý nhất định trong giới học thuật. Từ đó, các công trình, bài báo có khuynh hướng nghiên cứu về khoa học hạnh phúc đều đặn xuất hiện. Và hiện nay hạnh phúc đã trở thành đối tượng nghiên cứu độc lập của một ngành khoa học với tên gọi là “Science of HappIness”.
Nhà tâm lý Martin Seligman được xem là cha đẻ của tâm lý học tích cực, chủ tịch hiệp hội bác sĩ tâm lý Mỹ là một trong những người lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu môn nghiên cứu về hạnh phúc phải được chú trọng với tư cách là một khoa học liên ngành, chuyên nghiên cứu định lượng nhằm bổ sung thay thế cho những lĩnh vực triết học, tôn giáo đang giải thích một cách trừ tượng. Năm 1998, ông mời đến Akumal một số nhà tâm lý học hàng đầu nước Mỹ chia sẻ một mục tiêu mới của tâm lý học: nghiên cứu hạnh phúc. Và trào lưu tâm lý học tích cực ra đời vào năm đó hướng đến sự phát triển con người, hỗ trợ con người hưởng sự tích cực trọn vẹn. Trong năm 2006, khóa học về tâm lý tích cực của đại học Harvard đã trở thành lớp học phô biến nhất trường.
Dé quảng bá một lĩnh vực nghiên cứu mới ông Seligman đã tận dụng thành quả trước đó của trường phái tâm lý học nhân văn mà đại diện là Maslow và Carl Rogers, cũng như công trình nghiên cứu của David Myer, Ed Dienner và Mihaly Csikszentmihalyi. Đặc biệt ông Seligman đã phát triển một cách sáng tạo quan điểm cảm thụ lạc quan sau này được gọi là FLOW do Csikszentmihalyi đề xuất trước đó khá lâu. [7] Theo lý thuyết FLOW, điều kiện để đạt tới sự mãn nguyện bền vững là việc tham gia vào các hoạt động hơi khó khăn nhằm mục đích chống lại cảm giác nhàm chán và đơn điệu, nhưng đồng thời không khó đến mức vượt quá khả năng của một cá nhân cụ thé dé không tao cảm giác thất bại trong đời, không khiến người ta chán nản. Như vậy đến cuối thế ki XX, hạnh phúc mới được quan tâm một cách thích đáng đặc biệt là tâm lý học tích cực- Một phân ngành mới của tâm lý học, chuyên nghiên cứu định lượng về hạnh phúc và hướng đến hỗ trợ cho con người hưởng một cuộc sông tích cực trọn vẹn.
Năm 2003, Carol Rothwell và Pete Cohen, hai nhà nghiên cứu người Anh, lần đầu tiên (theo lời tự nhận xét của bà Carol Rothwell), đã đưa ra công thức để tính hạnh phúc. Dựa trên kết quả khảo sát xã hội học ở 1000 nghiệm thé là người Anh, công thức được đưa ra dưới dạng (Hạnh phúc = P + (5xE) + (3xH)) [7]. Trong đó, P là chỉ số cá tính (Personal Characteristics) bao gồm quan niệm sống, khả năng thích nghi, và sự bền bỉ dẻo dai trước thử thách. E là chỉ số hiện hữu (Existence) phản ánh tình trạng sức khỏe, khả năng tài chính và các mối quan hệ thân hữu.
H là chỉ số thể hiện nhu cầu cấp cao (Higher Order) bao gồm lòng tự tôn, niềm mơ ước, hoài bão và cả óc hài hước. Không có nhiều người kỳ vọng ở công thức này, song ở một phạm vi nao day, người ta cũng thấy công thức này có giá trị gợi mở nhất định. Các nghiên cứu nước ngoài Cảm nhận hạnh phúc của mọi người nói chung va của học sinh nói riêng đã được rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới có rất nhiều các nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của học sinh và sinh viên.
Mỗi tác giả nghiên cứu cảm nhận hạnh phúc ở một khía cạnh khác nhau, sử dụng các công cụ khác nhau đê tiên hành khảo sát và đưa ra các kết quả khác nhau. Khi khảo sát cảm nhận hạnh phúc trên nam và nữ, một số tác giả đã cho ra các kết quả nghiên cứu không trùng khớp với nhau. Tác giả Ali Sahraian, Seyed Mohammed Vakili và Rosalind(2010) nghiên cứu về mức độ hạnh phúc của sinh viên Khoa Y đại học Shiraz cho rằng có sự khác biệt sáng kê giữa cảm nhận hạnh phúc của sinh viên nam và sinh viên nữ, trong đó sinh viên nữ hạnh phúc hơn sinh viên nam [32]. Khi nghiên cứu hiệu quả đào tạo kỹ năng xã hội và mức độ hạnh phúc của sinh viên của nhóm tác giả Nasram Shayan, Teymor Ahmadi Gatab (2012) [33], một nghiên cứu về vai trò của hỗ trợ xã hội trong việc dự đoán cảm nhận hạnh phúc chủ quan của sinh viên của nhóm tac giả Diala Ammar, Diane Nauffal, Rana Sbeity (2009-2010) va nghiên cứu hạnh phúc va thành tựu học tập của nhóm tac gia Patrick D.
Quinn and Angela L. Duckworth (2008)[34] lại cho rằng mức độ hạnh phúc của nam va nữ là không có sự khác biệt đáng ké. Tác giả Meimanat Tabbodi , Hassan Rahgozar, Mohammad Mozaffari Makki Abadi với đề tài “Mối quan hệ giữa hạnh phúc và thành tích học tập”, mẫu được chọn ngẫu nhiên 320 sinh viên và sử dụng bảng câu hỏi Hạnh phúc Oxford thì đưa ra kết luận cả nam và nữ đều hạnh phúc ở mức thấp, tuy nhiên nữ hạnh phúc hơn nam [27].Có thê thấy, cùng tìm hiểu về sự khác biệt giới tính và sự cảm nhận hạnh phúc, các tác giả với các nghiên cứu khác nhau đã đưa ra các kết quả khác nhau về cảm nhận hạnh phúc giữa nam và nữ. Có tác giả cho rằng không có sự khác biệt giữa cảm nhận hạnh phúc của nam và nữ, tác giả khác lại cho rằng có sự khác biệt giữa cảm nhận hạnh phúc của nam và nữ, trong đó nữ hạnh phúc hơn nam, có tác giả cho rằng nam hạnh phúc hơn nữ.
Các kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt một phần do các công cụ nghiên cứu được sử dụng là khác nhau, các khách thể nghiên cứu ở các thời điểm và địa điểm khác nhau. Nhưng 10 chúng ta có thé thay, nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc và yếu tố giới tính là một khía cạnh độc đáo trong nghiên cứu, bởi ở mỗi địa điểm và thời gian nghiên cứu khác nhau cùng các khách thé khác nhau sẽ cho ra các kết qua khác nhau, có ý nghĩa và đáng được quan tâm. Vậy cảm nhận hạnh phúc giữa nam và nữ có sự khác biệt như thế nào và cụ thể mức độ hạnh phúc trong trường học của giới tính nào cao hơn, trong nghiên cứu này, tôi sẽ đề cập tới và làm rõ. Ở khía cạnh mối quan hệ giữa cảm nhận hạnh phúc và thành tích học tập các nhân cũng có một số tác giả quan tâm nghiên cứu.
Tác giả Chritstina Hinton (2013-2014) nghiên cứu về cảm nhận hạnh phúc của học sinh trường tân giáo và hai tac gia Patrick D. Quinn and Angela L. Những học sinh cho rằng mình hạnh phúc có điểm số trung bình trong các kì học cao hơn han các học sinh cho răng mình ít hạnh phúc. Tác giả Lee Patrice, Angela L.
Duckworth và Pollard Elizabeth còn nhắn mạnh rằng các học sinh có cảm nhận hạnh phúc cao có nhiều khả năng cải thiện điểm số trong năm học sau đó và những học sinh có thành tích học tập cao luôn cảm nhận hạnh phúc ở mức cao và giữ mức độ này trong cả hai năm [28]. Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Meimanat Tabbodi , Hassan Rahgozar, Mohammad Mozaffari Makki Abadi với đề tài “Mối quan hệ giữa hạnh phúc và thành tích học tập”, mẫu được chọn ngẫu nhiên 320 sinh viên. Công cụ được sử dụng trong nghiên cứu là bảng câu hỏi hạnh phúc Oxford. Một nghiên cứu khác cũng với đề tài: “Sự hạnh phúc của sinh viên và kết quả học tập” của tác giả Langevin và Elizabeth L cũng sử dụng bảng câu hỏi Hạnh phúc Oxford và nghiên cứu trên nhóm sinh viên Đại học Phoenix[36]lại đưa ra một kết luận khác là không có 11 sự tương quan giữa cảm nhận hạnh phúc và thành tích học tập trong trường học của sinh viên.