Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE TRÍ TUỆ 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trí tuệ không còn là vấn đề mới đối với chúng ta, việc nghiên cứu Trí tuệ là một trong những lĩnh vựa được nghiên cứu nhiều và sớm trong tâm lý học. Việc vận dụng những cơ sở lý luận của trí tuệ vào các hoạt động của con người như dạy học, khám phá tiềm năng .đang được các nhà khoa học hết Sức quan tâm. Tổng quan tài liệu nghiên cứu về trí tuệ 1.
Các thuyết về trí tuệ - Tiếp cận vấn đề trí tuệ theo thuyết liên tưởng Tiếp cận liên tưởng là trường phái tâm lý học Anh, giải thích động thái các quá trình tâm lý theo nguyên tắc kết hợp, liên tưởng các hình ảnh tri giác. Đại biểu của hướng tiếp cận này là các nhà triết học, tâm lý học Anh: D. Các nhà liên tưởng cho răng trí tuệ là quá trình thay đổi tự do tập hợp các hình ảnh, là sự liên tưởng các biểu tượng. Mối quan tâm chủ yếu của các nhà liên tưởng là tốc độ và mức độ liên kết các hình ảnh, các biểu tượng đã có, tức là quan tâm chủ yếu tới van đề tái tao các mối liên tưởng.
Theo họ, có bốn loại liên tưởng: liên tưởng giống nhau, liên tưởng tương phản, liên tưởng gần nhau về không gian và thời gian, liên tưởng nhân quả. Liên tưởng nhân quả có vai trò đặc biệt quan trọng trong các quá trình trí tuệ. Sự phát triển trí tuệ là quá trình tích lũy các mối liên tưởng. Sự khác biệt về trình độ trí tuệ được quy về số lượng các mối liên tưởng, về tốc độ hoạt hóa các liên tưởng đó.
Như vậy, sự phát triển trí tuệ chỉ là sự vận động bên trong của các hình ảnh cảm tính mà thôi. Vì thế, thuyết liên tưởng mới chỉ nêu ra nguyên tắc giải 11 thích máy móc về trí tuệ mà chưa dé cập đên ban chat, câu trúc, vai trò của trí tuệ trong hoạt động của con người. - _ Tiếp cận hành động tinh than Tiếp cận hành động tinh thần là đặc trưng của trường phái tâm lý học Vuxbua - một trường phái tâm lý học Đức, theo truyền thống triết học duy lý. Đại biểu của trường phái này là các nhà tâm lý hóc Đức: O.
Tư tưởng chu đạo của trường phái Vuxbua là nghiên cứu tu duy, tri tuệ thông qua thực nghiệm giải các bài toán tư duy. Phương pháp chủ yếu sử dụng trong thực nghiệm là tự quan sát (hầu hết các nghiệm thể tham gia thực nghiệm là các nhà tâm lý chuyên nghiệp. Họ có nhiệm vụ thường xuyên thông báo về diễn biến quá trình tư duy của mình khi giải quyết nhiệm vụ). Bằng thực nghiệm, các nhà tâm lý học Vuxbua đã đi đến những kết luận về bản chất của tư duy, trí tuệ.
Theo họ, tư duy là hành động bên trong của chủ thé nhằm xem xét các mối quan hệ (quan hệ ở đây là tất cả những gi không mang đặc điểm của hình ảnh cảm tính, là tat cả sự tong hợp phong phú các khái niệm). Việc xem xét các mối quan hệ này độc lập với việc tri giác các thành phan tham gia quan hệ. Thanh thử, quá trình tư duy, trí tuệ diễn ra không cần có sự hỗ trợ của các biểu tượng cảm tính, rời rạc. Hành động tư duy là công việc của "cái tôi", của chủ thể.
Nó chịu ảnh hưởng của nhiệm vụ (bài toán tư duy). Nhiệm vụ định hướng cho hành động tư duy. Khi chủ thể nhận ra bài toán có nghĩa là đã biến các chỉ dẫn từ bên ngoài thành tự chỉ dẫn trong quá trình giải quyết nhiệm vụ. Tính lựa chọn của tư duy bị quy định bởi sự vận động của tự chỉ dân.
- Tiép cận hành vi Tiếp cận hành vi là một trong những cố gang rat lớn của tâm lý học thé giới đầu thé kỷ XX, nhằm khắc phục tính chủ quan trong nghiên cứu các hiện 12 tượng tâm lý người thời đó. Kết quả là đã hình thành lên trường phái có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của tâm lý học Mỹ và thế giới thế kỷ XX: Tâm lý học hành vi, mà đại biểu xuất sắc là các nhà tâm lý học kiệt xuất: J. Các nhà tâm lý học theo hướng tiếp cận hành vi phủ nhận việc nghiên cứu ý thức con người. Theo họ, ý thức không đóng vai trò gì trong việc điều chỉnh hoạt động của con người và tâm lý học không thể nghiên cứu nó bằng phương pháp khách quan.
Vì vậy, tâm lý học chỉ nghiên cứu hành vi con người mà thôi. Tâm lý (của cả người và con vat) chỉ là các dạng hành vi khác nhau. Hành vi là tập hợp các phản ứng của cơ thê đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài. Nghiên cứu và điều khiến việc hình thành hành vi trí tuệ (cho cả động vật và con người) được quy về việc nghiên cứu tạo ra "môi trường các kích thích", được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình "điều kiện hóa hành vi".
Theo các nhà tâm lý học hành vi, hành vi trí tuệ (của cả người và động vật) là các phan ứng có hiệu quả mà cá thé (chủ thé) học được, nhăm dap lại các kích thích của môi trường sông. - _ Tiệp cận sinh học Các nghiên cứu trí tuệ tiếp cận theo góc độ sinh học thường đi theo các hướng: Phân tích cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt động trí tuệ; vai trò của yếu tô bam sinh và sự di truyén của trí tuệ, trí thông minh. Trong lĩnh vực này, trước hết phải đặc biệt quan tâm tới các nghiên cứu về phản xạ và về quy luật hoạt động thần kinh cấp cao của các nhà sinh lý học Nga do I.Pavlov lĩnh xướng. Kết quả nghiên cứu sự hình thành và dập tắt các phản xạ có điều kiện, các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao ở người là cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt động trí tuệ.
13 Các công trình của K.G6ndostéin (nhà tâm lý học và sinh lý học Đức 1878-1965) và của nhiều nhà tâm - sinh lý học cùng xu hướng đã hình thành các lý thuyết về định khu chức năng tâm lý của não bộ. Một trong hướng tiếp cận sinh học vấn đề trí tuệ được nghiên cứu nhiều là xác định vai trò của yếu tố di truyền trí tuệ. Ngay từ năm 1869, nhà tâm lý học và nhân chủng học người Anh F.Galton (1822-1911) đã cho phát hành cuốn "Thiên tài di truyền" và thành lập "thuyết ưu sinh học" (Eugencs), nhấn mạnh yêu tô di truyền trí thông minh. Những thập niên sau đó, thuyết di truyền trí năng được phổ biến tràn lan và được nhiều nhà tâm lý học phụ hoa.
- _ Tiếp cận hình thái (Ghestan) Ghestan (Gestalt) là một từ tiếng Đức, có nghĩa là tổ chức, hình thê hay hình thái. Trong tâm lý học, hướng tiếp cận hình thái xuất hiện vào thập niên đầu của thế kỷ XX và được đề xướng bởi các nhà tâm lý học Đức, mà đại biểu là M. Lĩnh vực chủ yếu và thành công nhất theo hướng tiếp cận hình thái là các công trình nghiên cứu về tri giác và tư duy, trí tuệ. Trong lĩnh vực này, người có nhiều đóng góp là V.
Trong nghiên cứu tư duy, vấn đề quan tâm của các nhà Ghestan là sự biến đối, cải tô các cầu trúc nhận thức ("tổ chức lại", "định hướng lại"). Nhờ đó các quá trình tư duy mang tính sáng tạo, khác hắn với các khái quát hình thức, các thuật toán v. như thuyết liên tưởng quan niệm. Theo họ, tư duy là sự hiểu biết bất ngờ ("bừng hiéu"- Insight) các quan hệ bản chất của tình huống có vấn đề.
Sự bừng hiểu này không được chuẩn bị sẵn trực tiếp bởi hoạt động phân tích trước đó. Qua nhiều thực nghiệm về tìm đường tắt, sử dụng công cụ, chế tạo công cụ ở khỉ, V.Kohler đã cho rằng sự tồn tại hành động trí tuệ của khỉ cũng giông của con người. Theo ông, đặc trưng của hành 14 động trí tuệ là hành động bất ngờ, không lệ thuộc vào các hành động trước đó và hoàn toàn độc lập với các phép thử. - Tiép cận hoạt động Hướng tiếp cận hoạt động là cuộc cách mạng thực sự trong tâm lý học nói chung, trong nghiên cứu sự hình thành và phát triển trí tuệ cá nhân nói riêng.
Tác gia của hướng tiếp cận này là các nhà tâm lý học Nga Xô Viết, mà đại biểu là nhà nhà tâm lý hoc vĩ đại L.Vugotxki và các nhà tâm lý học kiệt xuất khác: A. Tiép can hoat dong da khac phuc han chế của các hướng tiếp cận khác trong nghiên cứu trí tuệ băng cách khai thác triệt để thành tựu của triết học duy vật biện chứng và lịch sử, lấy triết học này làm nền tảng phương pháp luận của việc nghiên cứu tâm lý con người. Luận điểm cơ bản ở đây là: Con người làm ra chính bản thân mình bằng lao động và hoạt động xã hội. Toàn bộ đời sống tâm lý, ý thức của con người là sự phản ánh thực tiễn đời sống vật chất của nó.
Tâm lý, ý thức được hình thành và được biểu hiện qua hoạt động, mà trước hết là lao động sản xuất và hoạt động xã hội. Như vậy, chìa khóa dé nghiên cứu trí tuệ, theo hướng tiếp cận hoạt động là tìm hiểu sự hình thành hoạt động trí tuệ từ hoạt động thực tiễn, vật chất bên ngoài. Các trắc nghiệm trí tuệ Cuối thế ky XIX, nhà khoa học người Anh Francis Galton (1822 — 1911) đã đưa ra khái niệm chỉ số thông minh hay IQ (Intelligence quotient) trong cuốn sách Hereditary Genius (Thiên tài di truyền) xuất bản vào cuối thế kỷ 19. Sau đó nó được các học trò của ông là J.Cattell và Alfred Binet phát triển bằng việc thảo ra những bài trắc nghiệm để kiểm tra năng lực trí tuệ của trẻ khi đi học.
15 Năm 1904, Alfred Binet (1857 — 1911) cùng một nhóm các nhà tâm lý học người Pháp chuyên nghiên cứu tâm lý trẻ đã nghiên cứu ra phương pháp nhận diện và đánh giá trí tuệ của học sinh. Sau này nhà tâm lý học người Mỹ Giáo su Lewis Terman (Giảng viên trường đại học Standford) đã phát triển bài trắc nghiệm gồm những câu phức tạp hơn để dùng cho người trưởng thành và đặt tên là bài trắc nghiệm chỉ số thông minh Stanford-Binet. Bài trắc nghiệm này được phô biến rộng rãi trên khắp nước Mỹ vào năm 1917, chính phủ Mỹ sử dụng bài đánh giá này để phân loại, đánh giá và phân bổ thân binh vào các vi trí trong quân đội ở Thế chiến thứ I.