Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ đã được nghiên cứu từ rất sớm và được thực hiện bằng nhiều góc độ cũng như phương pháp khác nhau.Mukhina với công trình Tâm lí học mẫu giáo nghiên cứu về đặc trưng tâm lí của trẻ em trong độ tuổi mẫu giáo. Winhem Preyer với tác phẩm Trí óc của trẻ em đã miêu tả chi tiết về sự phát triển của trẻ em trên phương diện vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể thông qua cậu bé Alex.
Tác giả Erik Erikson với Trẻ em và xã hội nghiên cứu về sự phát triển của trẻ em, cách đối xử và giáo dục trẻ. Công trình nghiên cứu của A.Petrovski tập trung nghiên cứu điều kiện hình thành các kỹ năng hoạt động nói chung và kỹ năng hoạt động độc lập.Watson với công trình Chăm sóc về tâm lí cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã nghiên cứu về tâm lí của trẻ ngay từ khi mới sinh và cách chăm sóc chúng.Davudov nghiên cứu cụ thể về kỹ năng hành động với mô hình của trẻ đối với sự phát triển trí tuệ và các thao tác trí tuệ.Zaporojets với Cơ sở tâm lí học của giáo dục mẫu giáo tập trung nghiên cứu chuyên biệt về trẻ nhỏ từ lúc mới sinh đến 6 tuổi. Một số nhà tâm lý học Xô viết như: L. đã nghiên cứu quá trình hình thành hành động trí tuệ ở trẻ em, nhờ đó đã phát hiện ra cơ chế chuyển từ hành động vật chất bên ngoài thành hành động trí tuệ bên trong và đặc điểm, các giai đoạn của sự hình thành các hành động trí tuệ ở trẻ em.
Các công trình nghiên cứu của H.Valông đã dành mối quan tâm đến các vấn đề cảm xúc trong trí tuệ của trẻ và quá trình xã hội hóa các năng lực trí tuệ. Qua đó ta có thể thấy được các giai đoạn phát triển nhân cách nói chung và trí tuệ nói riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www. Những nghiên cứu ở trong nước Các vấn đề về tâm sinh lý trẻ em đã được nhiều nhà khoa học trong nước nghiên cứu: Tác giả Ngô Công Hoàn, đại học quốc gia Hà Nội với Giao tiếp và ứng xử sư phạm.
Tác giả Hoàng Thị Phưong với Vấn đề ý thức trong việc hình thành hành vi giao tiếp có văn hóa cho trẻ 5 tuổi (Tạp chí nghiên cứu giáo dục, Hà nội, số 5/2000) Có thể nhận thấy, qua sự khái lược về một số công trình nghiên cứu lý luận - thực tiễn của các tác giả trong và ngoài nước đã có những nghiên cứu về tâm, sinh lý trẻ em lứa tuổi mầm non và sự phát triển tâm, sinh lý thông qua hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ. Đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và cụ thể về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non. Vì vậy, dựa vào kết quả trên, tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu về nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ở các trường mầm non, qua đây góp phần làm phong phú thêm thông tin lí luận và thực tiễn về vấn đề này. Một số khái niệm công cụ 1.
Quản lý, Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội.
Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những kỳ quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [4, tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn Trong quá trình phát triển và tồn tại của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu, hoạt động của mỗi người. Chẳng hạn: Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6, tr. Quản lý có thể hiểu theo cách lý giải: Quản lý = Quản + Lý Quản: là việc coi sóc, giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”.
Lý: là việc sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển” Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “ Quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, nếu người đứng đầu tổ chức chỉ quan tâm đến việc “Lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “Quản” phải có “Lý”, trong “Lý” phải có “Quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) và các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Herscy và Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [dẫn theo 7, tr. Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [11].
Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm chung: + Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động của hoạt động khác. + Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý. - Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn quyết định quản lý, là những nội dung chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý.Mác so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng đối với hệ thống nhạc công, trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là chủ thể bị quản lý (các nhạc công chịu sự tác động của nhạc trưởng) để đưa đến một sản phẩm “kép” một sản phẩm “siêu sản phẩm” - Đó là cả chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý đều phát triển (hoạt động tạo ra các chủ thể và về sự phát triển của con người).
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển. - Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó cũng chứng tỏ rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định.
Có thể mô tả cấu trúc của một hệ thống quản lý qua sơ đồ 1.1: Môi trường quản lý lllllyly lylý lý llyyyy lllly lý lý lý lý Mục tiêu quản lý Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Sơ đồ 1. Cấu trúc của một hệ thống quản lý Hiện nay quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng của các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quản lý giáo dục Có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều quan niệm khác nhau về QLGD. - QLGD theo nghĩa tổng quát là “Hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”.
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. - QLGD là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển xã hội. Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [20, tr. Như vậy, QLGD là tổng hợp các biện pháp tổ chức kế hoạch hóa nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường các cơ quan trong hệ thống giáo dục.
Hệ thống giáo dục là một hệ thống xã hội cho nên quản lý giáo dục cũng chịu sự chi phối của quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội. Trong QLGD các hoạt động quản lý hành chính nhà nước và quản lý sự nghiệp chuyên môn đan xen vào nhau, thâm nhập lẫn nhau không tách biệt, tạo thành hoạt động quản lý thống nhất.