Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý công tác giáo dục môi trường cho học sinh. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học trên địa bàn huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. Chương 3: Một số biện pháp quản lý công tác giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học trên địa bàn huyện Đắk R’Lấp, tỉnh Đắk Nông. NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC MÔI TRƢỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.
Khái lƣợc về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về công tác giáo dục và quản lý môi trường ở nước ngoài: Trên thế giới, những năm đầu thập niên 70 của thế kỉ XIX, giáo dục môi trường đã được các tổ chức thế giới quan tâm. Từ đó đến nay, dưới sự theo dõi của các tổ chức Liên hiệp quốc, Giáo dục môi trường đã phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Trong nhiều năm qua, nội dung Giáo dục môi trường đã được đưa ra bàn thảo, thống nhất tại các hội nghị quốc tế và khu vực.
Nội dung được quan tâm là các chương trình, chiến lược và giải pháp Giáo dục môi trường chung cho tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Bên cạnh các hội nghị với các chương trình, chiến lược, còn có nhiều công trình nghiên cứu Giáo dục môi trường trong các lĩnh vực xã hội, ở các khu vực, các trường đại học, cao đẳng và các trường phổ thông. Tiêu biểu có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau: Vai trò của môn Khoa học trong giáo dục vì Môi trường (The Role of Sciennce Education in Education for the Environment) của A. Lucas, chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu Khoa học, Toán học và Giáo dục môi trường, Trường Chelsea, Đại học London.
Công trình này đã kết luận: (1) Nội dung Giáo dục môi trường phải được đặt ra trong yêu cầu nội dung các môn học, trong đó có môn Khoa học; (2) Việc dạy học môn Khoa học có đóng góp đáng kể cho việc tăng cường bảo tồn môi trường sống của con người; (3) Việc quan tâm xây dựng các khóa học, nội dung học của môn học đóng vai trò quan trọng trong việc Giáo dục môi trường và đượcc coi như một cơ sở để 7 phát triển Giáo dục môi trường. Giáo dục môi trường và thái độ đối với Môi trường (Environmental education and environmental attitudes) của Alvin Pettus - Environment EANL. Công trình này đã đánh giá kết quả một số cuộc thử nghiệm. Các cuộc thử nghiệm đó đượcc tiến hành để đo lường thái độ với Môi trường và tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến những thái độ đó.
Nội dung công trình nghiên cứu đã cho một số kết luận cụ thể: Ở nơi có càng nhiều thông tin về Giáo dục môi trường thì sẽ giúp con người có càng nhiều biện pháp để cải tạo chất lượng Môi trường; Điều kiện sống và làm việc có ảnh hưởng đến việc kiểm soát về Môi trường và tham gia vào các hoạt động Môi trường; Niềm tin, văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi thái độ của con người về môi trường. Các nghiên cứu về quản lý và giáo dục môi trường ở Việt Nam Trong nhiều năm qua, vấn đề Giáo dục môi trường đã được Đảng, Nhà nướcc và các bộ, ngành quan tâm. Việc triển khai các văn bản chỉ đạo, tổ chức dạy học các nội dung có liên quan đến Giáo dục môi trường đã thực sự sâu rộng trong nhân dân và học sinh. Trong giáo dục và đào tạo, ở cấp tiểu học, năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng bộ tài liệu giáo dục Môi trường qua các môn học: Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Lịch sử và Địa lý, Mỹ thuật và Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Tài liệu nhằm tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên về mục tiêu, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học, phương pháp và hình thức dạy học lồng ghép, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học, cách khai thác nội dung và soạn bài để dạy học lồng ghép, tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường trong các môn học. Song song đó, một số tác giả cũng đã có những công trình nghiên cứu với những nội dung tập trung vào các lĩnh vực như sau: Về mục tiêu, nội dung và các giải pháp giáo dục môi trường cho học sinh nói chung có những công trình nghiên cứu khoa học như: Vị trí và bước đầu 8 định hướng nội dung, biện pháp giáo dục môi trường ở bậc tiểu học ở Việt Nam của tác giả Phạm Đình Thái; Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học của tác giả Nguyễn Thị Vân Hương; Hai phạm vi của khái niệm giáo dục môi trường và mục tiêu giáo dục môi trường ở trường tiểu học, Về phương pháp tiếp cận trong giáo dục môi trường của tác giả Nguyễn Thị Thấn; giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học qua hoạt động ngoài giờ lên lớp của tác giả Huỳnh Thị Thu Hằng. Các công trình trên đã làm rõ mục tiêu và nội dung giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học, trong đó trình bày cụ thể các mục tiêu và nội dung giáo dục môi trường cho học sinh. Các công trình cũng đã xác định phương pháp dạy học, hình thức chung khi tổ chức các hoạt động nhằm Giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học nhằm đạt hiệu quả cao.
Từ nghiên cứu trên chúng tôi xác định các nội dung nghiên cứu nhằm kế thừa kết quả nghiên cứu các công trình đi trước tránh sự trùng lặp với các nội dung chương trình trước đây. Một số khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, phối hợp các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất. Theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, năm 2003: Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.
Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động. [16] Ngày nay, thuật ngữ quản lý trở nên phổ biến, có người cho rằng quản lý là hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Cũng có người cho rằng: quản lý là hoạt động có 9 mục đích của con người, do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Như vậy, quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Môi trường Môi trường theo nghĩa rộng nhất là bao gồm tất cả những gì có xung quanh một đối tượng mà người ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định với nó. Nếu đối tượng đó là một cá thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của cơ thể đó. Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống hoặc một cá thể, sự vật nào đó. Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.
Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) đã định nghĩa “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lí, hóa học, sinh học, kinh tế- xã hội, tác động đến từng cá thể hay cả cộng đồng” [12]. UNESCO (1981) định nghĩa “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra. Trong đó, con người sống bằng hoạt động của mình và khai thác những tài nguyên thiên nhiên nhân tạo, nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người” [12].
Trong từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2000) đã đưa ra khái niệm như sau: "Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy”. [16] Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam sửa đổi năm 2014: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. [34] 10 Trong các tài liệu Giáo dục học, môi trường” được hiểu là hệ thống phức tạp các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và xã hội xung quanh cần thiết cho sự sinh hoạt và phát triển của con người. Tóm lại, “Môi trường” là tất cả những gì có xung quanh chúng ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại sau: Môi trường tự nhiên, Môi trường nhân tạo và Môi trường xã hội. Môi trường tự nhiên: “Môi trường tự nhiên” bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hóa học, sinh học gắn với tự nhiên như: đất, nước, không khí, sinh vật, phát triển theo những quy luật tự nhiên và tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người nhưng ít nhiều chịu sự tác động của con người. Môi trường tự nhiên cho con người không khí để hít thở, đất để xây dựng các công trình, làm nương rẫy, ruộng lúa và cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản phục vụ sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hóa các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. Môi trường nhân tạo: “Môi trường nhân tạo” bao gồm các yếu tố vật lý, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
Hiểu một cách khác thì “Môi trường nhân tạo” là hệ thống môi trường do con người lợi dụng tự nhiên, cải tạo tự nhiên tạo ra những thành phố, làng mạc, nhà máy, trường học, bệnh viện, công viên.Trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì môi trường nhân tạo càng thay đổi nhanh chóng nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Môi trường xã hội: “Môi trường xã hội” là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người. Đó là: Luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định.