Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG PHÒNG, CHỐNG XÂM HẠI TÌNH DỤC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Trên thế giới Xâm hại tình dục trẻ em đang là một vấn đề toàn cầu, không chỉ riêng quốc gia nào, đã có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu tìm hiểu về vấn đề này, trong nghiên cứu này chúng tôi đưa ra một số nghiên cứu tiêu biểu như sau: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): Xâm hại tình dục trẻ em là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục mà trẻ em đó không hiểu một cách đầy đủ, không có khả năng quyết định ưng thuận một cách có hiểu biết, hoặc hành động diễn ra giữa một trẻ em với một người trưởng thành hoặc với một trẻ em khác mà do độ tuổi và mức độ phát triển, người này có mối quan hệ trách nhiệm, tin tưởng hoặc quyền hành với trẻ, và hành động gây ra nhằm thỏa mãn như cầu của người đó.[20] Các nhà nghiên cứu như London, Bruck, Ceci và Shuman (2005)[27] cho rằng có tới 2/3 nạn nhân bị lạm dụng không tiết lộ, thường là vì cảm giác xấu hổ và tội lỗi, ảnh hưởng đến sự sẵn sàng tiết lộ. Các nhà nghiên cứu giáo sư Briggs, 2012 và Scott, 2013 trong lĩnh vực này cho rằng cứ ba trẻ em gái thì có khoảng một phần ba trẻ em gái và một phần sáu trẻ em trai sẽ bị lạm dụng tình dục trước 18 tuổi [18]. Trong nghiên cứu về những tác động lâu dài của việc bị lạm dụng tình dục ở trẻ em của nhóm tác giả Cashmore & Shackel, 2013.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những tác động ngắn hạn và dài hạn của việc bị lạm dụng tình dục sẽ làm tăng khả năng mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần bao gồm trầm cảm, rối loạn ăn uống, lo lắng, rối loạn tâm thần và hành vi, hành vi tự sát. Ngoài ra còn có tỷ lệ gia tăng các hành vi mạo hiểm, phạm tội. Hoặc một số tác giả khác cho rằng việc bị xâm phạm tình dục khi còn nhỏ có thể sẽ trở thành một tội phạm trong tương lai. [26] Bên cạnh những nghiên cứu về tác động của xâm phạm tình dục trẻ em, còn có những tác giả còn nghiên cứu đối tượng thủ phạm xâm hại tình dục trẻ em.
Tác giả 6 Finkelhor, 2009 có những quan điểm trái ngược coi thủ phạm là “người lạ - strangerc danger”, tác giả cho rằng hầu hết hành vi xâm phạm tình dục trẻ em là người thân, người quen với gia đình. Những kẻ lạm dụng tình dục có thể là bất cứ ai, vượt qua mọi ranh giới kinh tế - xã hội - văn hóa và tôn giáo và có thể là những kẻ được coi là đáng tin cậy. Và theo tác gải Scott, 2014 thì cho răng 90% thủ phạm là nam giới là thành viên gia đình, bạn bè, người quen, nói chung là những người có mối quan hệ thân thiết tin cậy cụ thể như: 30.3% là họ hàng, bạn bè trong gia đình là 16% và người quen là 16,3%. Trong khi các nhà nghiên cứu vẫn phải xác định lý do tại sao lạm dụng tình dục xảy ra, có nhiều hiểu biết hơn về việc bị lạm dụng tình dục.
Finkelhor (1986) đã phát triển một mô hình, trong đó liệt kê bốn điều kiện tiên quyết để xâm phạm tình dục: thủ phạm phải có mong muốn được xúc phạm; ức chế bên trong; rào cản bên ngoài (chẳng hạn như người lớn giám sát) còn hạn chế; và sự phản kháng của chính nạn nhân phải được vượt qua. Mô hình của Finkelhor cung cấp cho các chuyên gia cái nhìn sâu sắc về cách có thể ngăn chặn lạm dụng tình dục: bằng cách nhắm vào thủ phạm tiềm năng, những người lớn khác có thể bảo vệ đứa trẻ và nạn nhân tiềm năng là trẻ em.[24] và phòng chống được coi là một trong những biện pháp nhằm can thiệp trước khi xảy ra xâm phạm tình dục và được coi là tiết kiệm chi phí nhất. Các chương trình giáo dục kỹ năng phòng chống xâm hại tình dục được cung cấp cho các cơ sở giáo dục được coi là một hình thức phòng, chống chính điều này được tác giả Daro, 1994 trong một nghiên cứu về phòng chống lạm dụng tình dục trẻ em [22]. Mục tiêu của các chương trình này là giảm tỉ lệ học sinh bị lạm dụng tình dục bằng cách tăng cường, năng lực của học sinh trong việc phát hiện và chống lại hành vi xâm hại sớm, khuyến khích hành vi, tìm kiếm sự giúp đỡ và giảm các tác động tiêu cực sau khi nó xảy ra được mô tả khá chi tiết trong các nghiên cứu của các tác giả như; Daro, 1994; Finkelhor, 2009; Walsh, 2015.
Trong các chương trình giáo dục phòng, chống xâm hại tình dục tại các nhà trường, theo tác giả Barron & Matthew, 2014 thì lại cho rằng có thể tham gia chương trình phòng, chống xâm hại tình dục cho đối tượng tình nguyện viên được đào tạo, nhóm kịch, nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe tâm thần và cả những người vượt qua được bản thân đã từng bị xâm hại tình dục[17]. 7 Các nội dung về giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh trong các nhà trường mà theo tác giả Wurtele, 1987 trong nghiên cứu về các chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục cho học sinh, tại đó tác giả đưa ra hai chương trình chính; một là cung cấp các thông tin cơ bản cho học sinh liên quan đến xâm hại tình dục và hai là những tình huống không an toàn đối với học sinh. Các chương trình giáo dục kỹ năng phòng, chống xâm hại tình dục bao gồm; các phương pháp truyền đạt, các buổi học đa phương tiện, các bài thuyết trình, sân khấu, kịch, ngoài ra học sinh cũng sẽ được luyện tập những kỹ năng như; từ chối, trốn thoát, tự vệ và báo cáo [21].2 Ở Việt Nam Trong những năm gần đây, vấn đề xâm hại tình dục trẻ em thu hút sự chú ý của xã hội, gióng lên hồi chuông cảnh báo cho sự biến chất, suy đồi đạo đức xã hội và gây nên nhiều bức xúc trong dư luận xã hội. Có rất nhiều công trình đã đi sâu vào nghiên cứu làm rõ thực trạng xâm hại tình dục ở trẻ em.
“Những hậu quả về tâm lý đối với nạn nhân của tội hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em và giải pháp khắc phục” trong nghiên cứu này tác giả Dương Tuyết Miên đã phân tích những tổn hại của nạn nhân bị xâm hại tình dục như tổn thương về tâm lý, thiệt hại về tinh thần, đau đớn về thể xác, ngoài ra còn có thể bị lây các bệnh về truyền nhiễm… những tổn hại này không chỉ xảy ra tại thời điểm bị xâm hại và còn ảnh hưởng mãi về sau này [14]. Tác giả Đặng Thương Hoài Linh trong nghiên cứu “Bảo vệ trẻ em chống lại sự xâm hại tình dục” Thuộc một trong bốn nhóm quyền trẻ em theo Công ước quốc tế quyền trẻ em, quyền bảo vệ trẻ em chống lại sự xâm hại về tình dục đã được cộng đồng quốc tế và các quốc gia thừa nhận và phải đảm bảo thực hiện. Tuy nhiên thực tế hiện nay, tình hình tội phạm và số lượng vụ án liên quan đến xâm hại tình dục trẻ em hiện nay có xu hướng gia tăng theo từng năm. Kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra, quan điểm của các nhà học giả, tác giả đã phân tích, đánh giá thực tiễn cũng như pháp luật và đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm tăng hiểu biết, giảm tình trạng xâm hại tình dục ở trẻ em.[12] 8 Nghiên cứu “Quyền trẻ em được bảo vệ khỏi bị xâm hại tình dục tại các đô thị Việt Nam” của tác giả Trần Minh Phương.
Nghiên cứu đã làm sáng tỏ các khái niệm công cụ và phân loại các nhóm quyền trẻ em theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, từ đó thấy rằng quyền trẻ em ở Việt Nam đã hầu hết được phủ kín trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngoài ra, chỉ ra các yếu tố tác động đến việc bảo đảm quyền của trẻ em bị xâm hại tình dục ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Bên cạnh đó đề xuất đổi mới về nhận thức, vai trò, trách nhiệm của các chủ thể khác nhau trong xã hội và sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các chủ thể trong việc bảo đảm các quyền của trẻ em bị xâm hại tình dục.[16] Tác giả Nguyễn Hữu Hào trong nghiên cứu về “Thực trạng giáo dục hoạt động giáo dục phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận” Tác giả cho rằng để phát triển học sinh THCS toàn diện thì phải có những biện pháp bảo vệ các em, hạn chế đến mức thấp nhất việc các em học sinh bị tổn thương về mặt thể chất và tinh thần. Vấn đề xâm hại tình dục đã trở thành vấn đề nóng trong những năm gần đây. Giáo dục các em học sinh thật tốt, tránh được việc bị xâm hại tình dục, sẽ giúp các em vững bước trên con đường tương lai.[9] Nhóm tác giả Đỗ Hồng Cường, Phạm Ngọc Sơn, Phạm Việt Quỳnh, Vũ Thị Quỳnh với nghiên cứu “Thực trạng tệ nạn học đường của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội” với mẫu nghiên cứu là 160 học sinh thuộc 4 trường THCS trên địa bàn Thành phố Hà Nội, khác nhau giữa HS nam và HS nữ; có liên quan đến nghề nghiệp của phụ huynh, xâm hại tình dục học đường ở các trường đã xuất hiện, song cũng cần có những nghiên cứu, điều tra tìm hiểu sâu hơn.
Nhiều biện pháp phòng, chống từng bước đẩy lùi tệ nạn học đường đã được các trường đề xuất thực hiện, trong đó cần chú trọng, đề cao hơn nữa vai trò của gia đình trong công tác giáo dục ngăn ngừa tệ nạn học đường nhằm góp phần định hướng giá trị sống cho HS THCS trong bối cảnh hiện nay. [4] Một nghiên cứu khác “Kiến thức, thái độ về xâm hại tình dục trẻ em của Học sinh trường trung học cơ sở Yên Hòa, Hà Nội” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoàng Ngân, Lưu Liên Hương, Trịnh Khánh Linh, Đào Anh Sơn. Nghiên cứu cho 9 thấy học sinh trường THCS Yên Hòa đã có nhận thức khá đầy đủ và đúng đắn về hành vi XHTD đối với học sinh.