phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục các công trình của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý giáo công tác dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình định. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
e 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, có vai trò quan trọng trong bất kỳ xã hội nào.
Do đó, từ xa xƣa, con ngƣời đã rất quan tâm nghiên cứu đạo đức, xem nó nhƣ động lực tinh thần để hoàn thiện nhân cách con ngƣời trong từng giai đoạn lịch sử nhất định. Rabơle (1494 - 1553) là một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp và tƣ tƣởng giáo dục thời kì Phục hƣng. Ông đòi hỏi việc giáo dục phải bao hàm các nội dung: "Trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ và đã có sáng kiến tổ chức các hình thức giáo dục nhƣ ngoài việc học ở | lớp và ở nhà, còn có các buổi tham quan các xƣởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày" [10, tr. 39,40] Vào những năm 60 - 70, đất nƣớc Liên xô đang trên con đƣờng xây dựng Chủ nghĩa xã hội, việc giáo dục con ngƣời phát triển toàn diện đƣợc Đảng cộng sản và Nhà nƣớc quan tâm.
Các nghiên cứu về lí luận giáo dục nói chung, và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) nói riêng đƣợc đẩy mạnh. Qua việc nghiên cứu quan điểm của T.Jlina trong cuốn sách “Giáo dục học tập 3” chúng ta có thể khái quát. Quản lý các hoạt động giáo dục ngoài giờ học với mục đích bổ sung và làm sâu hơn công tác giáo dục nội khóa; trƣớc tiên, nó là phƣơng tiện để phát hiện đầy đủ năng lực học sinh, làm thức tỉnh hứng thú và thiên hƣớng của các em đối với hoạt động nào đó và cũng là hình thức tổ chức giải trí cho các em, là cơ sở để quản lý việc e 7 thực tập về hành vi đạo đức để xây dựng kinh nghiệm của hành vi này [19]. Comenski đã áp dụng phƣơng pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dậy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện nhân cách cho học sinh.
Ông đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới đầy thuyết phục này và khẳng định: “Học tập không chỉ là lĩnh hội kiến thức trong sách vở, mà còn là lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ ” [16; tr 93]. Nhƣ vậy, hệ thống giáo dục ở các nƣớc trên thế giới, quản lý công tác GDĐĐ cho học sinh thông qua HĐNGLL rất đƣợc quan tâm vì đƣợc đánh giá là các hoạt động mang tính toàn diện, góp phần rèn luyện nhân cách, hình thành phẩm chất và kĩ năng cho ngƣời học. Muốn đạt đƣợc mục tiêu giáo dục nêu trên thì giáo dục không chỉ dừng lại ở các giờ học trên lớp mà phải mở rộng thông qua các GDĐĐ cho học sinh thông qua HĐNGLL. Không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học, nhà trƣờng mà phải mở rộng ra xã hội, học sinh không chỉ là khách thể, mà còn là chủ thể của quá trình giáo dục.
Trong lịch sử, những nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kì lịch sử từ cổ đại đến hiện đại luôn thể hiện quan điểm giáo dục của mình: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trƣờng gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội. Giáo dục đạo đức cho con ngƣời là vấn đề đƣợc đặt ra từ thời xa xƣa và luôn đổi mới để thích ứng với mọi thời đại. Đặc biệt trong nhà trƣờng, vấn đề GDĐĐ cho học sinh thông qua HĐNGLL luôn đƣợc quan tâm hàng đầu. Đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề này, nhƣng công tác GDĐĐ cho học sinh trung học cơ sở thông qua HĐNGLL đang còn ít đƣợc quan tâm trong các nghiên cứu ở nƣớc ngoài, nhất là đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở.
Các nghiên cứu trong nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục đạo đức cho mọi ngƣời. Ngƣời gọi đó là đạo đức cách mạng: “Đạo đức e 8 đó không phải là đạo đức thủ cựu, nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải là danh vọng của cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài ngƣời” và “đạo đức cũng nhƣ ý thức đã là sản phẩm xã hội và vẫn là nhƣ vậy chừng nào con ngƣời còn tồn tại” [28; tr 435]. Giáo dục là quá trình kết hợp vai trò chủ đạo của giáo viên với sự tích cực, tự rèn luyện của học sinh nhằm hình thành ý thức, tính cách và chủ yếu là hành vi thói quen đạo đức với các chuẩn mực xã hội quy định.
Nhân cách học sinh đƣợc hình thành qua hai con đƣờng cơ bản: con đƣờng dạy học trên lớp và con đƣờng hoạt động ngoài giờ lên lớp. Viện khoa học giáo dục Việt Nam, Học viện quản lý giáo dục đã có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này với các tác giả: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Phạm Minh Hạc. và nhiều tác giả khác. Để tìm ra các biện pháp về giáo dục đạo đức, các tác giả có nhiều cách tiếp cận khác nhau tạo nên sự phong phú về nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu.
Hà Thế Ngữ đã nghiên cứu về vấn đề tố chức quá trình giáo dục đạo đức học sinh thông qua giảng dạy các môn khoa học đặc biệt là các môn khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, bồi dƣỡng ý thức đạo đức cách mạng, hƣớng dẫn hành vi đạo đức cho học sinh. Tác giả Phạm Hoàng Gia nghiên cứu mối quan hệ giữa nhận thức khoa học với GDĐĐ, những biểu hiện nhân cách trong lối sống và đƣa ra dự báo mô hình nhân cách thanh niên năm 2000. Nguyễn Đức Minh nghiên cứu về cơ sở tâm lý- giáo dục học của giáo dục đạo đức. Phạm Minh Hạc nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc nhân cách, thực hiện giáo dục trong phát triển nhân cách.
Theo ông, nấc thang phát triền cao nhất của con ngƣời chính là “nhân cách”. Nhân cách thể hiện sự phân biệt khi nào bản thân là chủ thể, khi nào bản thân là khách thể. Dƣới góc độ của giá trị học, nhân cách con ngƣời chính là hệ thống các thái độ của mỗi ngƣời thể e 9 hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá trị và thƣớc đo giá trị của cộng đồng và xã hội; mức độ phù hợp cao, thì nhân cách càng lớn, có tính độc lập càng cao. Tác giả Hà Nhật Thăng (Chủ biên)[20]; [21], [22], [23] sách giáo viên hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp 6; 7; 8; 9 cũng đã nêu lên mục tiêu, nội dung, chƣơng trình, phƣơng tiện, trang bị cho việc tổ chức HĐGDNGLL, đánh giá kết quả tổ chức HĐGDNGLL của học sinh đồng thời hƣớng dẫn thực hiện các chủ điểm.
Đặc biệt, những năm gần đây, nhiều nhà nghiên cứu, nhà hoạt động xã hội đã có những bài viết đáng quan tâm, nghiên cứu nhƣ: Hoạt động ngoài giờ lên lớp của các khối 6, 7, 8, 9 của nhiều tác giả, NXB Giáo dục. Những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh THCS nhƣ: Luận văn của tác giả Văn tám “Quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định”, Đại học Quy Nhơn, 2020. Luận văn tác giả Phùng Công Hƣơng “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở kim đức, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ theo định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới”, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2020. Luận án tác giả Nguyễn Thị Thi “Quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở thành phố hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục”, Học viện Quản Lý giáo dục, 2017.
Luận văn, tác giả Nguyến Tiến Hiệp “Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp trên địa bàn Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh”, Trƣờng Đại Học Vinh, 2013. Luận văn tác giả Ngô Thanh Hƣơng “Quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường trung e 10 học cơ sở thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai”, Trƣờng Đại Học Huế, 2018. Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã hệ thống hóa lí luận về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp một cách hoàn chỉnh, đồng thời cũng đã đƣa ra nhiều kinh nghiệm thực tiễn rất tốt ở những địa bàn nghiên cứu khác nhau, là cơ sở để chúng tôi tham khảo, vận dụng nghiên cứu vào đề tài. Tuy nhiên, chƣa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THCS thông qua HĐGDNGLL, đặc biệt trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục. Khái niệm Quản lý Trong quá trình phát triển lịch sử của loài ngƣời bắt đầu từ khi có sự phân công lao động đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức, điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định đó là hoạt động quản lý. Những thuật ngữ về “Quản lý” ngày nay trở nên phổ biến, mọi hoạt động của tổ chức, xã hội đều cần tới quản lý.
Quản lý là một hoạt động diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi ngƣời.