Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động GDHN tại các trường THPT. Chương 2: Thực trạng quản lí hoạt động GDHN cho học sinh các trường THPT tại thành phố Vĩnh Long. Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lí hoạt động GDHN cho học sinh các trường THPT tại thành phố Vĩnh Long. - Kết luận và khuyến nghị.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TẠI CÁC TRƯỜNG THPT 1. Sơ lược lịch sử của vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Hoạt động GDHN đã có lịch sử ra đời và phát triển nhiều năm trên thế giới. Cuốn “Hướng dẫn chọn nghề” đầu tiên ra đời ở Pháp, đề cập tới sự phát triển đa dạng của thế giới nghề nghiệp do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, tăng trưởng kinh tế và việc nhất thiết phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp (Phạm Huy Thụ, 1996).
Việc hướng nghiệp cho học sinh dựa trên năng lực, năng khiếu, hứng thú, sở thích của cá nhân được Frank Parsons nghiên cứu ở năm 1909 (Parsons, Frank,1909) hoặc được N.Krupskaia khẳng định hiệu quả lao động phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp ở năm 1918 cho đến 1939 (Lê Vân Anh, 1982). Hướng nghiệp được thể chế hóa bằng sắc lệnh năm 1938 liên quan đến học sinh rời ghế nhà trường lúc 14 tuổi. Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra tầm nhìn toàn thế giới về tư vấn và hướng nghiệp, họ khảo sát so sánh các quốc gia ở Châu Âu, Châu Á… (Nguyễn Minh Đường, 2009) Suốt thế kỉ 20 và đầu thập kỉ thế kỉ 21, tư vấn và hướng nghiệp phát triển mạnh mẽ trong môi trường giáo dục. Tùy bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, GDHN ở các nước đều xuất hiện một số lí luận và thực tiễn cho hoạt động GDHN.
Ở Nga, những thập kỉ đầu thế kỉ 20, công tác hướng nghiệp rất được chú trọng, làm cơ sở để phát triển nguồn nhân lực phục vụ nền công nghiệp hóa đất nước bấy giờ (Đoàn Chi, 1990). Ở Pháp, có hệ thống giáo dục chuyên nghiệp mà thành phần chủ yếu xếp vào bậc trung học tương đương THPT, đó là con đường nghề nghiệp đi song song với con đường phổ thông hay công nghệ, một thành phần của con đường nghề nghiệp có thể có trình độ sau trung học tên gọi tiếng Pháp là enseignement spécialise. Ở nửa đầu thế kỉ 8 20, do tăng trưởng nền công nghiệp hóa, nhiều tác giả Keller và Viteles năm 1937, Watts năm 1966; năm 1974 Super đề cập đến tác phẩm Parson ở Hoa Kì trong những năm 1900, tác phẩm của Lahy trong lựa chọn nhân sự ở Pháp năm 1910; nỗ lực của Gemelli trong lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912, và sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen ở Bỉ năm 1911, 1912 và những tác phẩm tiên phong ở Genneva và London năm 1914 và 1915 do Reuchlin miêu tả những nỗ lực ban đầu trong thiết lập tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa Kì và Châu Âu (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2012). Ở các nước Châu Á đều chú trọng đến việc tổ chức giáo dục nghề sau trung học cơ sở, hầu hết các nước phân loại học sinh theo hai hướng chính là một bộ phận tiếp tục học lên THPT, một bộ phận chuyển sang học nghề, đó là trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề.
Ở Nhật Bản, Hàn Quốc đã sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hóa phổ thông với kiến thức và kỷ năng lao động nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Ở Nhật Bản, có khoảng 27,9% các trường THPT vừa học văn hóa phổ thông vừa học các môn kỹ thuật thuộc nhiều lĩnh vực cơ khí, ngư nghiệp, công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ ….Sau khi tốt nghiệp cấp 2 có đến 94% học sinh vào cấp 3, trong đó có 70% theo học các loại hình trường phổ thông cơ bản và 30% học sinh theo hướng học nghề. Ở Hàn Quốc, giảng dạy – kỹ thuật lao động là một bộ phận cấu thành quan trọng trong chương trình giáo dục ở các loại hình trường phổ thông, hết cấp 2 học sinh theo hai hướng chính là phổ thông và chuyên nghiệp, trong đó ưu tiên các trường kỹ thuật nghề nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ thông. Ở Hồng Kong, GDHN thông qua chương trình kĩ năng sống, giáo dục nghề bao gồm các chủ đề: kế hoạch nghề, tìm việc, thiết lập mục tiêu nghề.
Ở Philippine, giảng dạy tích hợp các môn khoa học công nghệ vào THPT, sau trung học cơ sở, nhánh giáo dục nghề nghiệp có 2 năm học nghề, 2 năm sau chọn nghề nhất định. Ở Malaysia, sau khi học THCS học sinh được phân chia 3 hướng chính: Nhóm giáo dục kĩ thuật công nghệ 9 cơ khí dân dụng; nhóm giáo dục phổ thông dạy các môn văn hóa; nhóm giáo dục nghề nghiệp giảng dạy lí thuyết, thực hành nghề cơ khí, ô tô, hàn, điện, điện tử. Như vậy, trên thế giới hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kĩ thuật và dạy nghề. Hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, trong đó GDNN góp phần hết sức to lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước.
Các cơ sở GDNN đào tạo, bồi dưỡng và cung cấp một lực lượng lao động đông đảo đã qua đào tạo, góp phần làm cho cơ cấu lao động xã hội, cả về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề và cơ cấu vùng miền phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội (KT-XH) của đất nước. Giáo dục thường xuyên, GDHN có vai trò quan trọng giúp con người có điều kiện hướng đến đào tạo lao động tri thức, tự đào tạo suốt đời. Nhà trường phải thay khẩu hiệu “Đào tạo một lần cho một đời người” bằng khẩu hiệu “Đào tạo suốt đời cho một đời người” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2013). Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, Bác Hồ đã sớm chỉ ra: Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động, lý luận đi với thực hành; cần cù đi với tiết kiệm (Nguyễn Thị Minh Hòa, 2007).
Từ năm 1977 đến năm 1980 các tác giả Phạm Minh Hạc, Phạm Tất Dong - Viện khoa học giáo dục tiến hành nghiên cứu tại huyện Thanh Oai tỉnh Hà Sơn Bình, trường phổ thông cơ sở (PTCS) Bắc Lí tỉnh Hà Nam Ninh và một số trường phổ thông ở Hà Nội. Bộ Giáo dục đã cho sửa chữa, bổ sung và ban hành chương trình sinh hoạt hướng nghiệp tạm thời cùng với tài liệu sinh hoạt hướng nghiệp của lớp cuối cấp PTCS và các lớp phổ thông trung học (PTTH) để các trường thực hiện, rút kinh nghiệm. Năm học 1980-1981, đồng chí Trưởng ban khoa giáo trung ương Bùi Thanh Khiết và Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thị Bình đi thăm các cơ sở thực nghiệm, thấy có kết quả tốt đã cho phép nhóm thực nghiệm lập đề án trình Ủy 10 ban cải cách giáo dục trung ương để mở rộng, đưa công tác hướng nghiệp vào các trường phổ thông. Dựa trên các công trình nghiên cứu, các tác giả Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Trọng Bảo, Nguyễn Thế Quảng, Đoàn Chi đã chung sức xây dựng đề án “Hướng nghiệp và sử dụng hợp lý học sinh ra trường”.
Ngày 19 tháng 3 năm 1981, Hội đồng Chính phủ đã ra quyết định số 126/CP về Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh PTCS và PTTH sau khi tốt nghiệp ra trường. Quyết định nêu rõ vai trò, vị trí, nhiệm vụ công tác hướng nghiệp, phân công cụ thể chính quyền các cấp, các ngành kinh tế, văn hóa từ trung ương đến địa phương có nhiệm vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi trực tiếp giúp đỡ các trường phổ thông trong việc đào tạo, sử dụng hợp lí và tiếp tục bồi dưỡng học sinh phổ thông sau khi ra trường. Ban hành kèm Quyết định 126/CP của Chính phủ là Thông tư 31-TT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn thực hiện Quyết định nêu trên. Nội dung Thông tư nêu rõ mục đích, nhiệm vụ và hình thức hướng nghiệp cho học sinh trong nhà trường phổ thông, đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên trong các trường phổ thông, cho dù đang đảm nhận công tác nào đều phải hoàn thành nhiệm vụ được giao trong công tác GDHN.
Năm 1984, khi sơ kết 3 năm thực hiện Quyết định số 126/CP của Hội đồng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu vấn đề: tiếp theo hướng nghiệp phải dạy nghề cho học sinh phổ thông nếu không tiếp tục học lên, học sinh ra đời dễ tạo công ăn việc làm, sẵn sàng tham gia lao động sản xuất ở địa phương. Chủ trương này đã được đưa ra toàn ngành thảo luận và được khẳng định trong Nghị quyết Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (1986): Trường phổ thông phải chuyển mạnh theo hướng dạy kiến thức phổ thông cơ bản, lao động, kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và dạy nghề. Từ năm 1987-1990 do sáp nhập Bộ, phải thu gọn đầu mối. Ban giáo 11 dục hướng nghiệp sáp nhập vào Vụ Giáo dục phổ thông, không còn đủ sức mạnh để triển khai các hoạt động hướng nghiệp, hậu quả là phong trào hướng nghiệp tại các địa phương sa sút nghiêm trọng, công tác tư vấn nghề tạm thời bị dừng lại.
Tháng 3 năm 1991, trước yêu cầu của thực tiễn, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân cho khôi phục đầu mối tổ chức chỉ đạo hoạt động lao động-hướng nghiệp của toàn ngành, thành lập Trung tâm Lao động - Hướng nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhờ quyết định đúng đắn này, chỉ 1 năm sau, Trung tâm Lao động-Hướng nghiệp đã khôi phục được công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Gần đây nhất, trong công trình Khoa học – Công nghệ cấp nhà nước KX-05-09, các tác giả Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Truyền, Bùi Văn Quân đã công bố các công trình: “ Một số vấn đề về hướng nghiệp cho học sinh phổ thông” và “ Một số kinh nghiệm về giáo dục phổ thông và hướng nghiệp trên thế giới”. Nhóm tác giả: Trần Xuân Xước, Tô Bá Trọng, Nguyễn Minh Đường, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Viết Sự, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi đã đưa ra các khái niệm, số liệu, kinh nghiệm giáo dục kỹ thuật và dạy nghề cho học sinh phổ thông, kinh nghiệm tổ chức hướng nghiệp, lao động sản xuất cho học sinh trường phổ thông trung học và trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp.