Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRƢỜNG TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Từ thời cổ đại ở phương Đông, Khổng Tử (551 - 479 - TCN ) - nhà triết học nổi tiếng của Trung Hoa, nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo đã coi trọng vai trò của giáo dục đạo đức.
Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Trí - Dũng”, trong đó “Nhân” là lòng thương người, là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường coi trọng giáo dục đạo dức, có chủ trương nổi tiếng truyền lại cho đến nay “Lễ trị”, lấy “ Lễ” để xử ở đời. Muốn vậy mọi người phải biết tu thân làm gốc [8] Nhà triết học phương Tây Socrates (470 - 399 - TCN) đã cho rằng đạo đức và sự hiểu biết quy định lẫn nhau. Có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết, do vậy chỉ sau khi có hiểu biết mới trở thành có đạo đức.
Chủ trương đạo đức của Socra- tes là tri thức và đạo đức là một nghĩa, là muốn sống phải tri thức và chỉ cần có tri thức về nhận thức là sống nhân đức [8]. Komensky (1592 – 1670) nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc luôn nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em cũng như những cây non trong vườn ươm; “Để cây có lớn một cách lành mạnh, nhất thiết phải được quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót…”. Ông kêu gọi các bậc cha, mẹ, các nhà giáo và tất cả những ai là nghề nuôi dạy trẻ; “Hãy mãi mãi là một tấm gương trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một cách chân chính…” [18]. Ngành giáo dục Nhật Bản có vị thế dẫn đầu thế giới như hiện nay vốn được xây dựng trên nền triết lý “con người = đạo đức”, đề cao tuyệt đối tính kỷ luật và tinh thần tự lập.
Giáo dục đạo đức ở Nhật còn thể hiện ở việc dạy HS biết coi trọng sự sống, yêu sự sống của mình, phải coi đó là tài sản quý báu, là một điều kỳ diệu, tuyệt vời của cha mẹ và của đất nước. Bản thân phải có nhiệm vụ gìn giữ 7 cho khoẻ mạnh để đền đáp lại cha mẹ và phục vụ xã hội nơi mình đang sống. Ngoài ra phải biết coi trọng thiên nhiên và các loài động thực vật. Cần học cách chăm sóc con vật, nuôi dưỡng cây cối bằng trái tim nhân ái để cảm nhận thế nào là sự sống.
Ở Nhật từ khi là học sinh tiểu học trẻ đã được nuôi dưỡng, chăm sóc vật nuôi, cây trồng hàng ngày, quanh năm để các em làm quen với thiên nhiên, sinh vật quanh môi trường sống, dần dần hình thành lòng yêu sinh vật, yêu thiên nhiên [31]. Các nghiên cứu trong nước Luật giáo dục số 38/2005/QH11 xác định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. “Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ , thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và tính sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân. Nhiều tác giả trong và ngoài nước với cách nhìn từ nhiều góc độ khác nhau đã có những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức nói chung cũng như giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng.
Tác giả Phạm Khắc Chương, Hà Nhật Thăng trong cuốn sách “Đạo đức học” (1998) đã đề cập đến các vấn đề giáo dục đạo đức nhằm giúp giáo viên có một cơ sở vững chắc để giáo dục học sinh. Các tác giả đã bàn nhiều về các vấn đề giáo dục đạo đức như phạm trù giáo dục trong đạo đức gia đình, đạo đức trong tình bạn, tình yêu…từ đó các tác giả đưa ra những nhận định và đề xuất một số phương pháp giảng dạy và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường tử tiểu học đến phổ thông [8]. Khi nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức các tác giả đã đề cập đến mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức và một số vấn đề về quản lý công tác giáo dục đạo đức hiện nay. Trong cuốn “Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” tác giả Phạm Minh Hạc cùng một số tác 8 giả khác đã bàn về nguyên nhân dẫn đến thực trạng đạo đức học sinh hiện nay, đồng thời nêu lên những mục tiêu và đưa ra những giải pháp giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [11].
Tác giả Đặng Quốc Bảo (2012) đã khẳng định: “Các gia đình, các nhà trường, các đoàn thể trong xã hội ta thời gian qua đã có rất nhiều cố gắng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, cho các thành viên. Tuy nhiên ta mới chú ý đến giáo dục đạo đức hướng ngoại, mà chưa coi trọng đúng mức giáo dục hướng nội là giáo dục biết hổ thẹn, xấu hổ, lòng chân chính tự ái, tự trọng. Chiến lược giáo dục của đất nước ta trong thời kỳ đổi mới, mục tiêu Nhân cách – Nhân lực của nền giáo dục nước ta trong thời kỳ đổi mới rất cần có sự nhấn mạnh chủ đề này trong các bài học về đạo làm người cho thế hệ trẻ” [1]. Nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh như: Lê Thị Thanh Bình (2013), “Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Lý Thái Tổ, Cầu Giấy, Hà Nội” [5]; Lê Ngọc Tiến (2015), “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của học sinh Trường trung học phổ thông Tây Hồ, Thành phố Hà Nội [33]; Hoàng Ngọc Thắng (2014), “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trưởng THCS Vân Nội, Đông Anh, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” [32].
Từ những nghiên cứu trên nhìn chung các đề tài nghiên cứu đi sâu vào việc xác định các nội dung giáo dục đạo đức, định hướng các giá trị đạo đức, các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông. Đặc biệt, hiện nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh các trường tiểu học TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương nói riêng. Một số khái niệm cơ bản 1.
Hoạt động giáo dục đạo đức 1. Đạo đức Dưới góc độ Triết học, đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên lý, quy tắc, chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng. Căn cứ vào những quy tắc 9 ấy, người ta đánh giá hành vi, phẩm giá của mỗi người bằng các quan niệm về thiện ác, chính nghĩa và phi nghĩa, nghĩa vụ, danh dự. Dưới góc độ Đạo đức học, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt bao gồm một hệ thống các quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội [31].
Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của một cá nhân đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần lành mạnh, trong sáng, ở hành động giải quyết hợp lý, có hiệu quả những mâu thuẫn. Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại [31] Theo tác giả Trần Thị Hương theo nghĩa rộng đạo đức là một lĩnh vực của ý thức xã hội, phản ánh các quan hệ xã hội (quan hệ đối với cộng đồng, lao động, với môi trường và thái độ đối với bản thân), thực hiện chức năng xã hội quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người.
Đạo đức được duy trì và củng cố bằng sức mạnh của dư luận, của lương tâm. Với tư cách là một lĩnh vực của ý thức xã hội, đạo đức biến đổi và phát triển cùng với sự biến đổi và phát triển của các điều kiện kinh tế – xã hội. Theo nghĩa hẹp, đạo đức là hệ thống những chuẩn mực, giá trị, nguyên tắc, quy tắc do xã hội quy định nhằm mục đích định hướng, điều khiển, điều chỉnh và đánh giá hành vi của mỗi cá nhân trong các mối quan hệ thực tiễn của họ, làm cho hành động của cá nhân phù hợp với lợi ích của xã hội [15]. Như vậy có thể hiểu: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm hệ thống những quan điểm, quan niệm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu của xã hội nhằm định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi cá nhân phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ của xã hội.
Bản chất đạo đức là những qui tắc, những chuẩn mực trong quan hệ xã hội, nó được hình thành, tồn tại và phát triển trong cuộc sống, được xã hội thừa nhận và tự giác thực hiện. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh 10 những quan hệ xã hội được hình thành trên cơ sở kinh tế, xã hội. Mỗi hình thái kinh tế hay mỗi giai đoạn đều có những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức tương ứng.