CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIẾU HỌC THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘI THIẾU NIÊN TIÈN PHONG HỒ CHÍ MINH 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về môi truờng, bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, trong đó có một số công trình tiêu biểu như: Môi trường của Lê Huy Bá; Giáo dục môi trường của Nguyễn Hữu Chiếm và Lê Hoàng Việt, V. vấn đề môi trường, bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại đề cập đến những vấn đề lớn sau đây: coi môi trường bao gồm các yếu tố bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên.
Bảo vệ môi trường, hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường, sử dụng hợp lý, cải tạo tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo phát triển bền vững, ngăn chặn hậu quả biến đổi khí hậu. Giáo dục bảo vệ môi trường làm cho cho người có sự hiểu biết, có kỹ năng và hành động thiết thực để bảo vệ môi trường. Đây là những tri thức quý báu giúp tác giả đi sâu nghiên cứu làm rõ khái niệm môi trường, bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức bảo vệ môi trường. Tác giả Trần Thị Thùy Dung (2016) đã nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học thành phố Lào Cai thông qua hoạt động trải nghiệm đã đề xuất các giải pháp nâng cao việc quản lý hoạt động giáo dục môi trường tại các trường tiểu học ở địa phương này.
Tác giả Trần Thị Thúy Hà (2017) còn nghiên cứu liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục 6 môi trường cho học sinh tiếu học tại thành phố Đà Nằng - Nhìn từ góc độ học đường” [8, tr.31-36], công trình trình bày kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, tiếp cận phân tích theo các chức năng quản lý. Tác giả đã nêu lên vai trò của nhà trường và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý giáo dục môi trường cho học sinh. Tuy nhiên, điểm hạn chế của công trình nghiên cứu này là địa bàn nghiên cứu hẹp (một số trường tiểu học tại thành phố Đà Nằng). Tổng quan một so nghiên cứu về quản lý hoạt động phoi hợp các lực lượng giáo dục • o O • học • sinh băo vệ• môi trường O Ở cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và họp quy luật,.
của chủ thể quản lý giáo dục lên các cấp đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tồ chức, huy động, điều phối, giám sát và điều chỉnh,. các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) đế hệ thống giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục” [6, tr 24], Ở cấp độ vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và họp quy luật,. của chú thể quản lý một cơ sở giáo dục đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thề người học và các lực lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả hoạt động giáo dục và dạy học nhằm làm cho cơ sở giáo dục vận hành luôn ổn định và phát triển để đạt tới mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục đó” [6, tr. 24], Dù ở cấp độ nào chúng ta cũng có thế hiếu: quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có định hướng, có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm hoàn thành mục tiêu giáo dục và đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt kết quả mong muốn một cách có hiệu quả.
Nhà trường là một tổ chức xã hội đặc thù với cấu trúc tổ chức chặt chẽ, 7 nhà trường có nhiệm vụ chuyên biệt là giáo dục, đào tạo các thê hệ người học phát triển nhân cách theo mục tiêu và định hướng của xã hội. Đó là quá trình tổ chức đồng loạt các hoạt động: dạy, học, giáo dục,. theo hệ thống nội dung chương trình được tố chức bài bản, chặt chẽ. Gia đình là tế bào của xã hội, là tập hợp nhũng người cùng chung sống, là một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân về dòng máu, thường gồm vợ, chồng, con cháu.
Lực lượng xã hội gồm: các cơ quan nội chính, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng, các cơ quan chức năng của địa phương. Mục tiêu của GDMT là nhằm trang bị cho học sinh những kỳ năng hành động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn. Phương pháp GDMT hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môi trường trong một môi trường cụ thề nhằm hướng đối tượng giáo dục có hành động bảo vệ môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc GDMT trong công tác bảo vệ môi trường, Đàng và Nhà nước đã có những chính sách, những chương trình hành động cụ thể, và đã đạt được những thành tựu đáng kể.
Các chương trình GDMT bao gồm cả chính khóa và ngoại khóa đã được triển khai tới tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục của Việt Nam. Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng, và vận động quần chúng cũng như các tố chức xã hội khác tham gia vào việc bào vệ môi trường tiến hành hàng năm. Hệ thống thông tin và dữ liệu môi trường cũng đã được xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI nêu rõ mục tiêu tổng quát của GD-ĐT là giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo cùa mồi cá nhân, “GD nhà trường phải kết hợp với GD gia đinh và xã hội”.
Muốn thực hiện được mục tiêu GD toàn diện học sinh cần phải coi trọng cả GD nhà trường, GD gia đình và GD xã hội. 8 Nói đến GD là nói đến nhà trường - nơi mà các hoạt động GD diễn ra thường xuyên, hàng ngày. Chất lượng của một đơn vị nhà trường thể hiện ở chất lượng các hoạt động dạy học và hoạt động GD. Đối với trường học, chất lượng GD là chất lượng hoạt động dạy học các môn văn hóa, chất lượng hoạt động GD về môi trường, tiết kiệm năng lượng điện, về an toàn giao thông, vệ sinh thực phấm, chất lượng hoạt động GD ngoài giờ lên lớp.
Giáo dục môi trường không phải là môn học chính thức. Hoạt động GDMT đã được Bộ GD-ĐT triển khai dưới nhiều hình thức tích họp, lồng ghép vào các môn học, hoặc đưa vào hoạt động GD ngoài giờ lên lóp. Song, vấn đề quản lí (QL) hoạt động GDMT ở các trường học nói chung và QL công tác phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng giáo dục (LLGD) ngoài nhà trường nói riêng vẫn chưa được quan tâm đúng mức, chưa thực hiện thường xuyên và chưa có tác động mang tính bền vững trong việc hình thành văn hóa môi trường cho học sinh. Quản lý Theo quan điểm của một số học giả: Van Fleet và Peterson định nghĩa quản lý: “là một tập hợp các hoạt động hướng đến việc sử dụng hiệu quả và hiệu quả các nguồn lực để theo đuổi một hoặc nhiều mục tiêu”.
Megginson, Mosley và Pietri định nghĩa quản lý là: “làm việc với các nguồn nhân lực, tài chính và vật chất để đạt được các mục tiêu cùa tổ chức bằng cách thực hiện các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát”. Định nghĩa của Kreitner về quăn lý: “Quản lý là một quá trình giải quyết vấn đề nhằm đạt được hiệu quà các mục tiêu của tổ chức thông qua việc sứ dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm trong một môi trường thay đổi”. 9 Theo FW Taylor: “Quản lý là một nghệ thuật biêt phải làm gì khi cân làm và thấy rằng nó được thực hiện theo cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo Harold Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua và với những người trong các nhóm được tố chức chính thức.
Đó là một nghệ thuật tạo ra một môi trường trong đó mọi người có thề thực hiện và các cá nhân và có thể hợp tác để đạt được các mục tiêu của nhóm”. Quản lý là quá trình đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chì đạo và kiểm tra. Người quản lý là nhân vật có trách nhiệm phân bổ nhân lực và các nguồn lực, chỉ dẫn sự vận hành của một bộ phận hay toàn bộ tồ chức đế tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt đến mục đích. Môi trường Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tổ tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chi bao gồm các nhân tổ tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. Ví dụ: Môi trường của học sinh gồm nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lóp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với luật pháp, nghị định, thông tư, quy định. Tóm lại, môi trường là tất cã những gì xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Mục đích của Giáo dục môi trường nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.
Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử 10 dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh nhừng thảm hoạ môi trường, xoá nghèo đói, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tài nguyên.