Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ BẰNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Quản lý dự án đầu tư 1. Khái niệm dự án và quản lý dự án đầu tư a. Dự án đầu tư Theo Luật đầu tư “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [11,tr.
Dự án đầu tư có thể xem xét từ nhiều góc độ khác nhau: Về mặt hình thức, nó là một tập hợp hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Về góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài. Về góc độ kế hoạch, dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, làm tiền đề cho cho các quyết định đầu tư và tài trợ. Về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
Có nhiều cách phân loại dự án đầu tư: + Theo thẩm quyền quyết định hoặc cấp giấy phép đầu tư: Đối với dự án đầu tư trong nước, để tiến hành quản lý và phân cấp quản lý, tuỳ theo tính chất của dự án và quy mô đầu tư, các dự án đầu tư trong nước được phân theo 3 nhóm A, B và C. Có hai tiêu thức được dùng để phân nhóm là dự án thuộc ngành kinh tế nào?; Dự án có tổng mức đầu tư lớn hay nhỏ? Trong các nhóm thì nhóm A là quan trọng nhất, phức tạp nhất, còn nhóm C là ít quan trọng, ít phức tạp hơn cả. Tổng mức vốn nêu trên bao gồm cả tiền chuyển quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, thềm lục địa, vùng trời (nếu có). Đối với các dự án đầu tư nước ngoài: gồm 3 loại dự án đầu tư nhóm A, B và loại được phân cấp cho địa phương.
8 + Phân loại dự án đầu tư theo trình tự lập và trình duyệt dự án: Theo trình tự (hoặc theo bước) lập và trình duyệt, các dự án đầu tư được phân ra hai loại: Nghiên cứu tiền khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu tiền khả thi; Nghiên cứu khả thi: Hồ sơ trình duyệt của bước này gọi là báo cáo nghiên cứu khả thi. + Phân chia theo nguồn vốn, có hai loại: Dự án đầu tư bằng vốn trong nước (vốn cấp phát, tín dụng, các hình thức huy động khác). Dự án đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài (nguồn viện trợ nước ngoài ODA và nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI). Trong loại Dự án đầu tư bằng vốn trong nước còn có thể phân chia Dự án đầu tư theo hình thức chủ đầu tư, như đầu tư từ doanh nghiệp tư nhân, đầu tư từ các công ty cổ phần, đầu tư từ vốn NSNN.
Kết hợp các cách phân loại dự án nêu trên, đề tài của học viên chỉ tập trung nghiên cứu quản lý dự án đầu tư XDCB từ vốn NSNN. Quản lý dự án đầu tư Quản lý dự án là một nghề, thuật ngữ Quản lý dự án được dùng để miêu tả một hoạch định về việc tổ chức trong việc quản lý những hoạt động đang diễn ra. Những hoạt động này thường được gọi là quản lý theo dự án. Quản lý dự án có nhiều khái niệm khác nhau: - Theo lý thuyết hệ thống: Quản lý dự án là điều khiển một quá trình hoạt động của hệ thống trong một quỹ đạo mong muốn, nhằm đạt được mục đích cuối cùng là tạo ra các sản phẩm như mục tiêu đã đề ra.
- Theo Viện quản lý dự án quốc tế PMI (2007): Quản lý dự án chính là sự áp dụng các hiểu biết, khả năng, công cụ và kỹ thuật vào một tập hợp rộng lớn các hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu của một dự án cụ thể. - Theo Tổ chức tiêu chuẩn Vương quốc Anh: Quản lý dự án là việc lập kế hoạch, tổ chức, giám sát và kiểm tra tất cả các khía cạnh của dự án và thúc đẩy tất cả các thành phần tham gia nhằm đạt được các mục tiêu của dự án một cách an toàn và trong khuôn khổ thời gian, chi phí và phương pháp. Tóm lại: Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có 9 tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới dự án dưới sự rang buộc về nguồn lực có hạn. Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án.
- Quản lý dự án đầu tư: là một tập hợp các biện pháp của chủ đầu tư để quản lý quá trình đầu tư kể từ bước xác định dự án đầu tư, đến các bước thực hiện đầu tư và bước khai thác dự án để đạt được mục tiêu đã định. Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình * Khái niệm: Là sự điều hành các công việc theo một kế hoạch đã định hoặc các công việc phát sinh xảy ra trong quá trình hoạt động xây dựng với các điều kiện rang buộc nhằm đạt được các mục tiêu đề ra một cách tối ưu. Các ràng buộc bao gồm: Quy phạm pháp luật (Luật, quy chuẩn, tiêu chuẩn…. Quản lý một dự án xây dựng thông thường gồm bốn giai đoạn: +Giai đoạn 1: Xác định mục tiêu dự án, nội dung gồm: - Xác định mục tiêu dự án: - Tổ chức công việc của dự án: Xác định nhân sự và nguồn lực cần thiết để triển khai công việc.
+Giai đoạn 2: Lập kế hoạch thực hiện dự án, nội dung gồm: - Xác định nhiệm vụ, công việc cần thiết để thực hiện mục tiêu; - Trình tự và thời hạn hoàn thành tất cả các nhiệm vụ, công việc. +Giai đoạn 3: Quản lý thực hiện dự án, nội dung gồm: Thực hiện các kỹ năng quản lý: - Tạo động lực thúc đẩy và tập trung vào mục tiêu; - Làm trung gian giải quyết các mối quan hệ các cấp; - Quyết định phân bổ, điều chỉnh nguồn lực; - Giải quyết các vấn đề phát sinh. - Kiểm tra, giám sát tiến độ, ngân sách và chất lượng (đảm bảo cho dự án luôn đúng lịch trình, ngân sách và các tiêu chuẩn chất lượng đã định, đảm bảo an toàn và điều kiện môi trường). 10 +Giai đoạn 4: Kết thúc dự án, nội dung gồm: - Hoàn thành mục tiêu của dự án, chuyển kết quả cho các thành phần liên quan.
- Tổng kết, rút kinh nghiệm; * Các hình thức và hệ thống quản lý điều hành dự án đầu tư xây dựng công trình: - Các hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình: Người quyết định đầu tư quyết định hình thức quản lý dự án theo quy định của Luật xây dựng. + Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án: Chủ đầu tư thành lập Ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án. Việc giao nhiệm vụ và ủy quyền ban quản lý dự án phải được thể hiện trong quyết định thành lập Ban quản lý dự án. +Ban quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư.
Ban quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà bna quản lý dự án không đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư. + Trường hợp Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý dự án: Là chủ đầu tư thuê các đơn vị tư vấn độc lập thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án của mình. Trường hợp Chủ đầu tư thuê tổ chức quản lý dự án của mình thì đơn vị tư vấn phải đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất dự án. Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thỏa thuận giữa các bên.
Khi áp dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án, chủ đầu tư vẫn phải sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án. Tóm lại: Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là việc giám sát, chỉ đạo, điều phối tổ chức, lên kế hoạch đối với các giai đoạn của vòng đời dự án trong khi thực hiện dự án. Từ góc độ quản lý và tổ chức áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo tốt mục tiêu dự án như mục tiêu về giá thành, mục tiêu thời gian, chất lượng. Vì thế làm tốt công tác quản lý dự án có một ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Đặc điểm của quản lý dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN Đối với các dự án sử dụng vốn NSNN kể cả các dự án thành phần, Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu 11 tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng. Đối với dự án của doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư. Doanh nghiệp có dự án tự chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo các quy định của Nghị định này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đối với dự án quan trọng quốc gia hoặc dự án nhóm A gồm nhiều dự án thành phần, nếu từng dự án thành phần có thể độc lập vận hành, khai thác hoặc thực hiện theo phân kỳ đầu tư thì mỗi dự án thành phần có thể được quản lý, thực hiện như một dự án độc lập.