Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Chương 3: Giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên tiểu học tỉnh Đắk Nông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HIỆN NAY 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu xác định các phẩm chất và năng lực của giáo viên Để nhằm định hướng cho quá trình đào tạo ở các trường sư phạm và thực hành nghề cho các GV, nhiều nước trên thế giới đã xây dựng bộ chuẩn nghề nghiệp GV, trong đó, đề cập khá rõ các năng lực và phẩm chất cần thiết của người GV.
Hoa Kỳ là quốc gia đi tiên phong trong xây dựng Chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông. Uỷ ban quốc gia chuẩn nghề dạy học (National Board for Professional Teacher Standards - NBPTS) - được thành lập năm 1987 - đã đề xuất 5 điểm cốt lõi để các bang vận dụng: (i) GV phải tận tâm với HS và việc học của họ (Teachers are Committed to Students and Their Learning). Dựa vào 5 đề xuất cốt lõi đó, mỗi bang đã xây dựng Chuẩn nghề nghiệp GV phổ thông của bang mình. Cộng hoà liên bang Đức, theo nghị quyết Hội nghị Bộ trưởng Văn hoá Giáo dục các bang trong Liên bang (2004) thì Chuẩn đào tạo GV là những 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yêu cầu mà mọi GV phải đáp ứng.
Theo đó, những nét chính về hình ảnh nghề nghiệp của người GV là: (i) GV là những chuyên gia về dạy và học. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá quá trình dạy và học. (ii) GV phải ý thức được rằng nhiệm vụ của họ gắn bó chặt chẽ với các giờ lên lớp và với cuộc sống nhà trường. (iii) GV thực thi nhiệm vụ đánh giá và tư vấn một cách công bằng có trách nhiệm.
Muốn vậy họ phải có trình độ cao về sư phạm tâm lý và chẩn đoán. (iv) GV liên tục phát triển các năng lực nghề nghiệp của mình, tận dụng mọi cơ hội để theo kịp các phát triển mới trong hoạt động nghề nghiệp. (v) GV tham gia xây dựng một nền văn hoá học đường khuyến khích học tập. Mười năng lực nghề nghiệp của GV (áp dụng từ đầu năm học 2005 - 2006) được trình bày thành 4 lĩnh vực: Lĩnh vực thứ nhất: Năng lực dạy học (1) Xây dựng kế hoạch bài học và thực hiện giờ lên lớp phù hợp với yêu cầu chuyên môn.
(2) Hỗ trợ việc học của HS bằng cách tổ chức các tình huống học tập, động viên HS thiết lập các mối liên hệ và áp dụng cái đã học. (3) Khuyến khích HS tự quyết định trong các hoạt động học tập. Lĩnh vực thứ hai: Năng lực giáo dục (nghĩa hẹp) (4) Hiểu các điều kiện sống của HS về xã hội, văn hóa và tác động đến sự phát triển nhân cách HS trong khuôn khổ nhà trường. (5) Truyền đạt các giá trị và chuẩn mực, hỗ trợ việc đánh giá và hành động tự quyết của HS.
(6) Tìm ra giải pháp cho các khó khăn và xung đột trong nhà trường, trong giờ học. Lĩnh vực thứ ba: Đánh giá (7) Chẩn đoán các tiền đề học, quá trình học, khuyến khích HS học có mục đích, tư vấn cho HS và cha mẹ HS. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (8) Nắm vững thành tích học tập của HS trên cơ sở các thước đo minh bạch. Lĩnh vực thứ tư: Đổi mới (9) Ý thức được các yêu cầu đặc biệt của nghề dạy học, am hiểu nghề mình với một trách nhiệm và nghiệp vụ đặc biệt.
(10) Hiểu nghề mình và có nhiệm vụ học tập thường xuyên. Hiện nay trên thế giới, có khá nhiều nghiên cứu đề xuất một số kiến thức, kỹ năng và mô hình năng lực cần thiết cho những GV trong thế kỷ 21 cũng như tranh luận một cách chi tiết hơn về việc đào tạo GV dựa trên năng lực (competence – based teacher education). Có thể kế đến một số nghiên cứu nổi bật như: 21 st Knowlege and skills in educators preparation (AACTE, 2010), Pedagogical Competences – The Key to Efficient Education (Suciu & Mata, (2011) hay Teachers’ Competencies (Slevi, 2010). Những nhóm năng lực của GV trong thời đại mới được hầu hết các tác giả thống nhất là: (1) năng lực chuyên môn; (2) năng lực nghiên cứu; (3) năng lực xây dựng chương trình giảng dạy; (4) năng lực học tập suốt đời; (5) năng lực văn hóa – xã hội; (6) năng lực cảm xúc; (7) năng lực giao tiếp; (8) năng lực CNTT và (9) năng lực môi trường.
Cũng theo các tác giả này, các năng lực này ảnh hưởng đến giá trị, hành vi, giao tiếp, mục tiêu và hoạt động thực tiễn của GV trong trường học và ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển chuyên môn, nghề nghiệp và chất lượng dạy học. Việc hướng đến đào tạo sinh viên sư phạm theo chuẩn năng lực được các tác giả khuyến khích, như là một hướng tiếp cận nhằm giúp sinh viên có thể phù hợp nghề, thích ứng với nghề một cách tốt nhất ngay sau khi ra trường [55]. Bộ Giáo dục Singapore (NIE, 2009) cũng đưa ra một số chuẩn năng lực của GV trong thế kỷ 21, tập trung vào 3 mặt biểu hiện: (1) thực hành nghề nghiệp (giáo dưỡng HS; cung cấp hoạt động học tập có chất lượng cho HS; bồi dưỡng tri thức cho HS với: sự thông thạo về chuyên môn, với tư duy phản biện; với tư duy phân tích, với sự sáng tạo và với sự tập trung cho tương lai); (2) lãnh đạo và quản lý (thu phục nhân tâm: hiểu môi trường, phát triển cho người khác; làm việc với người khác: hỗ trợ cha mẹ HS, làm việc nhóm); (3) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính hiệu quả của cá nhân (hiểu mình và người khác, tự điều chỉnh, hiểu và tôn trọng người khác, có khả năng thích ứng tốt và đương đầu với khó khăn [68]). Ở Philippine, năm 2006, Bộ Giáo dục cũng đưa ra một bộ chuẩn GV dựa trên năng lực (compentence – based teacher standard) gồm có 7 lĩnh vực với các chuẩn cụ thể như: (1) chú ý đến khía cạnh xã hội của việc học (thể hiện như là một hình mẫu lý tưởng tích cực cho HS); (2) môi trường học tập (xây dựng môi trường học tập bảo đảm sự công bằng; bảo đảm môi trường vật lý an toàn và có lợi đối với việc học; tôn trọng và yêu cầu cao đối với người học; thành lập và duy trì các chuẩn hành vi đối với người học một cách nhất quán; (3) Sự đa dạng của người học (hiểu tường tận về năng lực và phẩm chất của HS cũng như hoàn cảnh, gia thế của các em; biểu hiện sự quan tâm đến sự phát triển toàn diện của trẻ; (4) chương trình (chứng tỏ sự hiểu biết tường tận và có kiến thức chuyên môn sâu rộng; trao đổi mục tiêu bài học một cách rõ ràng và phù hợp với người học; sử dụng thời gian lên lớp một cách hiệu quả; lựa chọn phương pháp, hoạt động học tập, tài liệu học tập phù hợp với HS và mục tiêu bài giảng; (5) Lên kế hoạch, đánh giá và báo cáo (trao đổi một cách cụ thể, rõ ràng với cha mẹ và người giám hộ, cấp trên về sự tiến bộ của HS; sử dụng các chiến lược đánh giá phù hợp để điều khiển và đánh giá việc học; điều khiền thường xuyên và phản hồi liên tục về việc hiểu nội dung của người học; (6) nối kết với cộng đồng (xây dựng một môi trường học tập tương ứng với nguyện vọng của cộng đồng; (7) phát triển cá nhân và phát triển nghề nghiệp (tự hào về sự cao quý của nghề GV; xây dựng cầu nối chuyên môn với đồng nghiệp để phát triển thực tiễn dạy học cho bản thân) [69].
Những phẩm chất và năng lực đặt ra cho người GV trong các bộ chuẩn nghề nghiệp GV đã thể hiện yêu cầu về tính chuyên nghiệp của người GV với tư cách là một nghề (vì trước đây có lúc người ta chưa xem công việc của GV là một nghề). Các tiêu chuẩn nghề nghiệp của GV chỉ có tính chất ổn định trong một thời gian nhất định. Xã hội ngày càng phát triển, những yêu cầu đặt ra cho người GV ngày càng cao. Vì thế, khuynh hướng nghiên cứu xác định các 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẩm chất và năng lực của GV dưới dạng các tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu mới của thời đại luôn được tiến hành.
Ở Việt Nam những năm gần đây, vấn đề xây dựng chuẩn nghề nghiệp, mô hình nghề nghiệp GV, đào tạo GV theo hướng tiếp cận năng lực. đều rất được chú trọng. Trong các giáo trình Tâm lý học sư phạm của các tác giả như Lê Văn Hồng (1994) [29], Tâm lý học lứa tuổi và sư phạm của Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1995) [30] đều có nội dung Tâm lý học người GV, trong đó đề cập đến khá kỹ “Nhân cách của người GV”. Các phẩm chất và năng lực của người GV được nhấn mạnh như: thế giới quan khoa học, lý tưởng nghề nghiệp, yêu nghề, yêu trẻ, năng lực dạy học (gồm có năng lực hiểu HS trong quá trình dạy học và giáo dục, tri thức và tầm hiểu biết của người thầy giáo, năng lực chế biến tài liệu, năng lực nắm vững kỹ thuật dạy học và năng lực ngôn ngữ) và năng lực giáo dục (gồm có năng lực vạch dự án phát triển nhân cách của HS, năng lực giao tiếp sư phạm, năng lực cảm hóa HS, năng lực ứng xử sư phạm, năng lực tổ chức hoạt động sư phạm).
Trên cơ sở đề xuất của các nhà giáo dục học có uy tín và học tập kinh nghiệm GD&ĐT của các nước phát triển, năm 2007 Bộ GD&ĐT đã ban hành quy Quy định Chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học. Theo đó, chuẩn nghề nghiệp GV tiểu học gồm có 3 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí đánh giá rất cụ thể, chi tiết và rõ ràng [8]: Tiêu chuẩn 1: gồm các yêu cầu thuộc lĩnh vực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống - Nhận thức tư tưởng chính trị với trách nhiệm của một công dân, một nhà giáo đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước. - Chấp hành quy chế của ngành, quy định của nhà trường, kỷ luật lao động.