Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn về quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng tại thành phố hải phòng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn về quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng tại, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2016

94
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

Bảng ký hiệu các chữ viết tắt

Danh mục các bảng biểu

Danh mục các hình vẽ

MỞ ĐẦU

0.1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài

0.2. Mục tiêu luận văn

0.3. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

1.2.1. Vị trí địa lý

1.2.2. Đặc điểm địa hình

1.2.3. Tài nguyên thiên nhiên

1.2.4. Chế độ thủy văn, hải văn

1.2.5. Đặc điểm địa hình địa chất đáy biển

1.2.6. Các hệ sinh thái đặc biển của Hải Phòng

1.3. Tổng quan về hoạt động đổ thải chất liệu nạo vét luồng cảng

1.4. Tổng quan quản lý hoạt động đổ thải trên biển của thế giới

1.5. Tổng quan quản lý hoạt động nạo vét luồng cảng tại Việt Nam

1.6. Các tác động của hoạt động nạo vét, duy tu các tuyến luồng

1.6.1. Tác động tích cực

1.6.2. Các tác động tiêu cực của công tác nạo vét

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu

2.3.2. Phương pháp khảo sát thực tế

2.3.3. Phương pháp chuyên gia

2.3.4. Phương pháp tiếp cận hệ thống

2.3.5. Phương pháp so sánh

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Cơ sở pháp lý quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét ở Hải Phòng

3.1.1. Các quy định quốc tế về hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét

3.1.2. Các quy định chung về hoạt động nhận chìm (đổ thải) trong các quy định quốc tế

3.1.3. Các quy định chung về Quy trình đánh giá để cấp phép cho đổ, thải chất thải tại bãi chứa chất thải trên biển

3.1.4. Cơ sở thực thi luật pháp quốc tế về quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét trên biển tại Việt Nam

3.1.5. Các quy định pháp lý liên quan đến việc quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét

3.2. Cơ sở thực tiễn cho quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét của Hải Phòng

3.2.1. Nhu cầu về nạo vét và đổ thải chất nạo vét của Hải Phòng

3.2.2. Thực trạng quản lý hoạt động nạo vét của Hải Phòng

3.3. Đề xuất giải pháp cho việc quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét

3.3.1. Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét trên biển

3.3.2. Xây dựng kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét trên biển

3.3.3. Đề xuất mô hình quản lý việc giám sát quản lý việc đổ thải chất nạo vét trên biển

3.3.4. Đề xuất các nội dung quy định về quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng dựa trên quy định của Nghị định thư 1996

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý đổ thải chất nạo vét tại Hải Phòng

Quản lý đổ thải chất nạo vét tại Hải Phòng là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế biển. Hải Phòng, với vị trí địa lý thuận lợi và hệ thống cảng biển phát triển, đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý chất thải nạo vét. Việc nạo vét và đổ thải chất nạo vét không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn đến sự phát triển bền vững của thành phố. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các phương pháp quản lý hiệu quả là cần thiết.

1.1. Khái niệm về chất nạo vét và đổ thải

Chất nạo vét là các vật liệu được khai thác từ đáy biển trong quá trình nạo vét luồng cảng. Đổ thải chất nạo vét là hành động thải bỏ các chất này xuống biển hoặc các khu vực được chỉ định. Việc quản lý chất nạo vét cần tuân thủ các quy định pháp lý và tiêu chuẩn môi trường để đảm bảo an toàn cho hệ sinh thái biển.

1.2. Tình hình hiện tại của hoạt động nạo vét tại Hải Phòng

Hoạt động nạo vét tại Hải Phòng đang gia tăng do nhu cầu phát triển cảng biển. Tuy nhiên, khối lượng chất nạo vét ngày càng lớn, gây áp lực lên hệ thống quản lý môi trường. Việc thiếu các quy định cụ thể về quản lý chất nạo vét dẫn đến nhiều khó khăn trong việc kiểm soát và giám sát hoạt động này.

II. Vấn đề và thách thức trong quản lý đổ thải chất nạo vét

Quản lý đổ thải chất nạo vét tại Hải Phòng đang gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt quy định pháp lý rõ ràng về quản lý chất nạo vét. Điều này dẫn đến tình trạng lúng túng trong việc cấp phép và giám sát hoạt động đổ thải. Hơn nữa, sự gia tăng hoạt động nạo vét cũng làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường biển.

2.1. Thiếu quy định pháp lý về quản lý chất thải

Luật Tài nguyên, Môi trường biển và hải đảo chỉ đưa ra khung quy định chung mà chưa có các quy định cụ thể về quản lý chất nạo vét. Điều này gây khó khăn cho các cơ quan chức năng trong việc thực hiện giám sát và kiểm tra.

2.2. Tác động tiêu cực đến môi trường

Hoạt động nạo vét và đổ thải không được quản lý chặt chẽ có thể dẫn đến ô nhiễm môi trường biển, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Việc thiếu kiểm soát có thể gây ra tình trạng xói lở bờ biển và làm giảm chất lượng nước.

III. Phương pháp quản lý hiệu quả hoạt động đổ thải chất nạo vét

Để quản lý hiệu quả hoạt động đổ thải chất nạo vét, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc xây dựng khung pháp lý chặt chẽ và các quy trình giám sát nghiêm ngặt là rất cần thiết. Ngoài ra, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường.

3.1. Xây dựng khung pháp lý chặt chẽ

Cần hoàn thiện các quy định pháp lý liên quan đến quản lý chất nạo vét, bao gồm việc xác định rõ các tiêu chuẩn về chất lượng chất nạo vét và quy trình cấp phép đổ thải. Điều này sẽ giúp các cơ quan chức năng có cơ sở để thực hiện giám sát và kiểm tra.

3.2. Ứng dụng công nghệ trong quản lý chất thải

Sử dụng công nghệ hiện đại trong việc theo dõi và giám sát hoạt động nạo vét và đổ thải sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý. Các công nghệ như cảm biến, hệ thống thông tin địa lý (GIS) có thể được áp dụng để theo dõi tình hình chất nạo vét và tác động của nó đến môi trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng

Nghiên cứu về quản lý đổ thải chất nạo vét tại Hải Phòng đã chỉ ra rằng việc áp dụng các giải pháp quản lý hiệu quả có thể giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Các mô hình quản lý đã được thử nghiệm và cho thấy hiệu quả trong việc kiểm soát chất nạo vét và bảo vệ môi trường biển.

4.1. Mô hình quản lý hiệu quả

Một số mô hình quản lý đã được áp dụng tại Hải Phòng, bao gồm việc thiết lập các khu vực đổ thải được cấp phép và giám sát chặt chẽ. Các mô hình này đã giúp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ hệ sinh thái biển.

4.2. Kết quả nghiên cứu và đánh giá

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc quản lý chất nạo vét hiệu quả không chỉ bảo vệ môi trường mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố. Các chỉ số về chất lượng nước và đa dạng sinh học đã được cải thiện đáng kể.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho quản lý chất nạo vét tại Hải Phòng

Quản lý đổ thải chất nạo vét tại Hải Phòng cần được cải thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, cộng đồng và các tổ chức quốc tế để xây dựng một hệ thống quản lý hiệu quả. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý và áp dụng công nghệ mới trong quản lý chất nạo vét.

5.1. Đề xuất giải pháp cho tương lai

Cần xây dựng các chính sách và quy định cụ thể về quản lý chất nạo vét, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về bảo vệ môi trường. Việc áp dụng công nghệ mới trong quản lý cũng cần được chú trọng.

5.2. Tầm nhìn phát triển bền vững

Hải Phòng cần hướng tới một mô hình phát triển bền vững, trong đó việc quản lý chất nạo vét được thực hiện một cách hiệu quả và đồng bộ. Điều này không chỉ bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế của thành phố.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu cơ sở pháp lý và thực tiễn về quản lý hoạt động đổ thải chất nạo vét luồng cảng tại thành phố hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan vấn đề Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ 1. Một số khái niệm liên quan (1)Nhận chìm: Thuật ngữ “nhận chìm” được xác định trong Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996. Trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về thuật ngữ này cụ thể “Nhận chìm ở biển là sự đánh chìm hoặc trút bỏ có chủ định xuống biển các vật, chất được nhận chìm ở biển theo quy định của Luật này” [22] nhưng chưa cụ thể.

Vì vậy, Luận văn sử dụng khái niệm “nhận chìm” theo Công ước Luật biển 1982, Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996. “Nhận chìm” có nghĩa là: i. Bất kỳ sự đổ, thải có ý thức nào xuống biển các chất thải hoặc các chất khác từ các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình nhân tạo khác ở biển. Bất kỳ sự đánh chìm nào của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình nhân tạo khác ở biển.

Việc nhận chìm không bao gồm: i. Việc đổ, thải các chất thải hoặc các chất khác được sản sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong việc khai thác bình thường của tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình khác trên biển, cũng như các thiết bị của chúng, ngoại trừ các chất thải hoặc các chất khác được chuyên chở hoặc chuyển tải trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc các công trình khác bố trí ở biển được dùng để đổ thải các chất đó, trên các tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hay các công trình đó tạo ra; ii. Việc tàng chứa các chất với mục đích không phải chỉ là để đổ, thải chúng với điều kiện là việc tàng chứa này không đi ngược lại những mục đić h c ủa Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc đổ, thải các chất thải hoặc các chất khác phát sinh trực tiếp từ hoặc liên quan đến việc khai thác, thăm dò và quá trình chế biến tài nguyên khoáng sản lòng đất dưới đáy biển ngoài khơi không áp dụng các quy định của Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996.

Ngoài ra, Nghị định thư Luân Đôn 1996 mở rộng phạm vi điều chỉnh để quản lý hoạt động nhận chìm để cấm "thiêu hủy trên biển" đối với quá trình đốt cháy trên tàu, dàn nổi hoặc cấu trúc nhân tạo khác trên biển, đối với chất thải hoặc chất khác với mục đích đổ, thải nó một cách thận trọng bằng cách thiêu hủy bằng nhiệt. (2)Vật liệu nạo vét: là trầm tích (sa bồi) lầy từ dưới mặt nước trước khi được đổ vào đại dương. (4)Bãi chứa chất thải: Trong các văn bản QPPL của Việt Nam hiện nay chưa có định nghĩa hay khái niệm về bãi chứa chất thải trên biển. Tổng hợp các tài liệu của Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996 cũng như các quy định của quốc tế về xác định khu vực vị trí trên biển.

Luận văn đã xác định khái niệm về bãi chứa chất thải trên biển như sau: Bãi chứa chất thải trên biển (còn có thể gọi là điểm nhận chìm trên biển- dumping site) là khu vực có diện tích nhất định đã được xác định trên biển để đổ thải chất thải và vật chất khác (có các tọa độ để xác định chính xác về vị trí, khu vực này trên hải đồ, có các biển báo, dấu hiệu hàng hải để nhận dạng) do cơ quan có thẩm quyền xem xét, đánh giá và cấp phép cho đổ thải tại đó theo những quy định và điều kiện cụ thể được ghi trong giấy phép [29][30]. Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996 quy định cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, đánh giá, xác định bãi chứa chất thải trên biển nhằm cho phép đổ thải để nhận chìm vào đó không những đối với chất thải mà còn đối với tất cả các vật, chất khác được đề xuất xin cấp phép nhận chìm. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bãi chứa chất thải trên biển (điểm nhận chìm trên biển) cũng có thể dùng để đổ thải một loại chất thải, vật, chất nhất định nào đó hay để đổ thải nhiều loại vật, chất khác nhau và cấp cho một hay nhiều giấy phép,… (5)Cảng, cầu cảng: Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu biển ra, vào hoạt động để bốc dỡ hàng hoá, đón trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác [15]. Hoạt động đổ thải vật liệu nạo vét theo quy định cũng là một hoạt động của nhận chìm ở biển.

Tổng quan về khu vực nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Hình 1. Bản đồ hành chính thành phố Hải Phòng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hải Phòng là thành phố ven biển, nằm phía Đông miền duyên hải Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 102 km, phía Bắc và Đông Bắc giáp Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp Hải Dương, phía Tây Nam giáp Thái Bình và phía Đông là bờ biển chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ phía Đông đảo Cát Hải đến cửa sông Thái Bình. Là nơi hội tụ đầy đủ các lợi thế về đường biển, đường sắt, đường bộ và đường hàng không, giao lưu thuận lợi với các tỉnh trong cả nước và các quốc gia trên thế giới.

Do có cảng biển, Hải Phòng giữ vai trò to lớn đối với xuất nhập khẩu của vùng Bắc Bộ, tiếp nhận nhanh các thành tựu khoa học - công nghệ từ nước ngoài để rồi lan tỏa chúng trên phạm vi rộng lớn từ bắc khu Bốn cũ trở ra. Cảng biển Hải Phòng cùng với sự xuất hiện của cảng Cái Lân (Quảng Ninh) với công suất vài chục triệu tấn tạo thành cụm cảng có quy mô ngày càng lớn góp phần đưa hàng hóa của Bắc Bộ đến các vùng của cả nước, cũng như tham gia dịch vụ vận tải hàng hoá quá cảnh cho khu vực Tây Nam Trung Quốc [1]. Dân số Hải Phòng bao gồm 15 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 7 quận (Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, Đồ Sơn, Dương Kinh), 8 huyện (An Dương, An Lão, Bạch Long Vĩ, Cát Hải, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo). Dân số thành phố là trên 1.000 người, trong đó số dân thành thị là trên 847.000 người và số dân ở nông thôn là trên 990.

Mật độ dân số 1.207 người/km2 [1]. Khí hậu Thời tiết Hải Phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: Nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt. Trong đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô, mùa đông là 20,30C; từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,50C. Lượng mưa trung bình từ 1.

Do nằm sát biển nên vào mùa đông, Hải Phòng ấm hơn 10C và mùa hè mát hơn 10C so với Hà Nội. Nhiệt độ trung bình trong năm từ 230C - 260C, tháng nóng nhất (tháng 6,7) nhiệt độ có thể 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lên đến 440C và tháng lạnh nhất (tháng 1,2) nhiệt độ có thể xuống dưới 50C.Độ ẩm trung bình vào khoảng 80 - 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 1, 12 [ 1 ]. Đặc điểm địa hình Tổng diện tích của thành phố Hải Phòng là 1.519 km2, bao gồm cả huyện đảo (Cát Hải và Bạch Long Vĩ). Đồi núi chiếm 15% diện tích, phân bố chủ yếu ở phía Bắc, do vậy địa hình phía Bắc có hình dáng và cấu tạo địa chất của vùng trung du với những đồng bằng xen đồi; phía Nam có địa hình thấp và khá bằng phẳng kiểu địa hình đặc trưng vùng đồng bằng thuần tuý nghiêng ra biển, có độ cao từ 0,7- 1,7 m so với mực nước biển.

Vùng biển có đảo Cát Bà được ví như hòn ngọc của Hải Phòng, một đảo đẹp và lớn nhất trong quần thể đảo có tới trên 360 đảo lớn, nhỏ quây quần bên nó và nối tiếp với vùng đảo vịnh Hạ Long. Đảo chính Cát Bà ở độ cao 200 m trên biển, có diện tích khoảng 100 km2, cách thành phố 30 hải lý. Cách Cát Bà hơn 90 km về phía Đông Nam là đảo Bạch Long Vĩ, khá bằng phẳng và nhiều cát trắng [1]. Đồi núi, đồng bằng: Địa hình phía Bắc của Hải Phòng là vùng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp dần về phía Nam ra biển.

Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đã xảy ra quá trình sụt võng với cường độ nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dãy chính. Dãy chạy từ An Lão đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hòn Dáu. Dãy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: Nhánh An Sơn - Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng Tây Bắc - Đông Nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lãng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng Tây Tây Bắc - Đông Đông Nam gồm nhiều núi đá vôi [1]. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bờ biển và biển: Bờ biển Hải Phòng dài trên 125 km2, thấp và khá bằng phẳng, chủ yếu là cát bùn do 5 cửa sông chính đổ ra biển.

Chính vì điều này đã làm cho biển Đồ Sơn thường xuyên bị vẩn đục nhưng sau khi cải tạo nước biển đã có phần sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng còn có đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới có những bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ. đẹp và kì thú. Sông: Sông ngòi ở Hải Phòng khá nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/1 km2.

Độ dốc khá nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ