CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ CÔNG ÍCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 1. KHÁI NIỆM, TIÊU CHUẨN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 1. Khái niệm thành phố trực thuộc tỉnh Hiện tại chúng ta có hai khái niệm về thành phố là thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Theo nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị thì hiện tại chúng ta có 6 loại đô thị bao gồm : Đô thị đặt biệt, đô thị loại I, II, III, IV, V.
Trong đó, thành phố trực thuộc trung ương là đô thị loại đặt biệt và đô thị loại I, là 1 đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh trực thuộc quyền quản lý nhà nước khác với thành phố trực thuộc tỉnh ( đơn vị hành chính tương đương cấp huyện ). Thành phố trực thuộc trung ương được quy hoạch phát triển là những trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội lớn và quan trọng bật nhất trong nền kinh tế của các vùng miền như Bắc - Trung - Nam nói riêng và cả nước ta nói chung. Đơn vị hành chính dưới sự quản lý các thành phố này được phân bổ như sau: Quận (đối với khu vực trung tâm ), huyện ( đối với khu vực ngoại thành ) tương đương với đơn vị hành chính cấp huyện trực thuộc tỉnh. Dưới Quận, huyện là Phường ( xã, thị trấn ), tiếp theo là khu phố ( thôn ), và cuối cúng là tổ dân phố ( xóm ).
Thành phố trực thuộc tỉnh là một loại hình đơn vị hành chính cấp hai tại Việt Nam, tương đương với huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp huyện). Khác với các đơn vị hành chính thuộc tỉnh khác, thành phố trực thuộc tỉnh thường là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một tỉnh hoặc vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh, hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước. Hiến pháp 2013 quy định tại Khoản 1 Điều 110 như sau: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn, thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường; Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập. 24 Bên cạnh đó, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015 quy định tại Điều 2 như sau.
Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có: 1.Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 2. Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trungương (sau đây gọi chung là cấp huyện); 3. Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); 4. Đơn vị hành chính – kính tế đặc biệt.
Như vậy, thành phố thuộc tỉnh nằm ở cấp hành chính thứ 2 trong 3 cấp hành chính (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) của Việt Nam. Tuy nhiên, so với các quận, huyện, thị xã, thì thành phố thuộc tỉnh thường lớn hơn và có vị thế quan trọng hơn. Vai trò này được ghi rõ trong Nghị định số 15/2007/NĐ-CP của Chính phủ: Thành phố thuộc tỉnh có vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế – xã hội hoặc là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông của tỉnh và giao lưu trong nước, quốc tế; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội liên huyện, liên tỉnh và vùng lãnh thổ (điều 5). Cũng theo nghị định này thì thành phố thuộc tỉnh là đơn vị hành chính cấp huyện loại I trong tổng số các loại.
Tiêu chuẩn Theo Nghị quyết số 1211/2016/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 2016, tại Điều 5, Mục 2: Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính đô thị, Chương I: Tiêu chuẩn của đơn vị hành chính thì một đơn vị để được trở thành thành phố thuộc tỉnh cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn như sau: 1. Quy mô dân số từ 150.000 người trở lên. Diện tích tự nhiên từ 150 km2 trở lên. Đơn vị hành chính trực thuộc: a) Số đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc có từ 10 đơn vị trở lên; b) Tỷ lệ số phường trên tổng số đơn vị hành chính cấp xã từ 65% trở lên.
Đã được công nhận là đô thị loại I hoặc loại II hoặc loại III; hoặc khu vực dự kiến thành lập thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương đã được phân loại đạt tiêu chí của đô thị loại I hoặc loại II hoặc loại III. Các đơn vị hành chính cấp dưới một thành phố thuộc tỉnh được chia ra thành nhiều phường (phần nội thành) và xã (phần ngoại thành). NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DỊCH VỤ CÔNG ÍCH 1. Khái niệm, tính chất của dịch vụ công ích Trong cuộc sống của chúng ta có rất nhiều hoạt động được trao đổi hằng ngày, người ta gọi chung là dịch vụ - một cụm từ không còn mới.
Về cơ bản dịch vụ có thể hiểu tương tự như hàng hóa nhưng vô hình chủ yếu là hoạt động mang tính phục vụ nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, của xã hội. Thời gian gần đây khi nền kinh tế phát triển nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực nên xuất hiện khái niệm “dịch vụ tư” và “dịch vụ công”. Hai khái niệm này xuất hiện cùng lúc với nhau trong sự so sánh để phân biệt giữa công: tức thuộc về nhà nước, chung cho mọi người với tư: thuộc về cá nhân. Nói về dịch vụ công, hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu về vấn đề này.
Tùy theo góc độ tiếp cận, chúng ta có thể tham khảo một số khái niệm dịch vụ công cơ bản như sau: Từ điển Petit Larousse định nghĩa: “Dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”.934] Từ điển Oxford, giải thích dịch vụ công với các nghĩa như sau: “1. Các dịch vụ như giao thông hoặc chăm sóc sức khoẻ do nhà nước hoặc tổ chức chính thức cung cấp cho nhân dân nói chung đặc biệt là xã hội; 2. Việc làm gì đó được thực hiện nhằm giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận; 3. Chính phủ và cơ quan chính phủ”.1024] Như vậy, khái niệm dịch vụ công được sử dụng phổ biến rộng rãi.
Ở nước ra, từ góc độ chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều góc nhìn đa dạng về dịch vụ công như: Theo tác giả Phạm Quang Lê (2004): “Dịch vụ công gồm dịch vụ công ích phục vụ chung cho cả cộng đồng dân cư, dịch vụ sinh hoạt công cộng đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống hàng ngày của mọi người dân; dịch vụ xã hội phục vụ với mục đích nhân đạo” [35, tr. Theo tác giả Chu Văn Thành (2004) định nghĩa: “Dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu cần thiết của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắt không vụ lợi; 26 đảm bảo công bằng và ổn định xã hội”. Dịch vụ bao gồm dịch vụ sự nghiệp , dịch vụ công ích và dịch vụ hành chính công. 186-187] Nhìn chung, từ những cách hiểu của các tác giả nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp dịch vụ công.
Đó là một lĩnh vực hoạt động thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của nhà nước phục vụ cho nhu cầu chung của toàn xã hội. Từ đó, ta có thể thấy dịch vụ công ích chính là một phần nằm trong dịch vụ công. Ngoài những tính chất vốn có của dịch vụ công, dịch vụ công ích có những tính chất đặc trưng để phân biệt với hai nhóm còn lại là dịch vụ hành chính công và dịch vụ sự nghiệp công. Nói về khái niệm dịch vụ công ích, hiện nay văn bản pháp luật đã quy định về lĩnh vực này cụ thể tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 của Chính phủ xác định: “Sản phẩm, dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ mà việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí hoặc sản phẩm, dịch vụ có tính chất đặc thù; được Nhà nước trợ giá phần chênh lệch giữa giá tiêu thụ, giá sản phẩm dịch vụ theo quy định của Nhà nước hoặc phần chênh lệch giữa số tiền do người được hưởng sản phẩm, dịch vụ công ích thanh toán theo quy định của Nhà nước, với chi phí hợp lý của nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích để sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng (hoặc giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành nếu có)”.[2] Theo luật Doanh nghiệp (2020) đề cập "Sản phẩm dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống, kinh tế, xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh và việc sản xuất, cung cấp theo cơ chế thị trường thì khó có khả năng bù đắp chi phí đối với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này, do đó được Nhà nước đặt hàng, giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do Nhà nước quy định.[1] Tác giả Nguyễn Thanh Hà cho rằng (2003) : “Dịch vụ công ích là hoạt động cung cấp các hàng hóa dịch vụ có tính chất kinh tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân, nó gắn liền với việc cung ứng của các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản”.