MỞ ĐẦU Công nghệ truy nhập quang thụ động GPON đã đƣợc ITU chuẩn hóa [8], hiện nay là một trong những công nghệ đƣợc ƣu tiên lựa chọn cho triển khai mạng truy nhập tại nhiều nƣớc trên thế giới. GPON là công nghệ hƣớng tới cung cấp dịch vụ mạng đầy đủ, tích hợp thoại, hình ảnh và số liệu với băng thông lớn tốc độ cao. Do vậy, GPON sẽ là công nghệ truy nhập lựa chọn triển khai hiện tại và tƣơng lai. Ở Việt Nam, hầu hết các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã chọn công nghệ GPON để cung cấp dịch vụ FTTH cho khách hàng.
Cuối năm 2014, Tập đoàn Bƣu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã quyết định cho phép VNPT Bắc Giang đầu tƣ hệ thống cáp quang truy nhập sử dụng công nghệ GPON. Trung tâm Viễn thông Yên Thế – VNPT Bắc Giang cũng bắt đầu triển khai công nghệ GPON từ cuối tháng 12 năm 2014 và triển khai mạnh mẽ từ năm 2015 tới nay. Hiện nay, với số lƣợng thuê bao ngày một gia tăng và yêu cầu về chất lƣợng dịch vụ của khách hàng ngày càng cao, VNPT đã đề ra mục tiêu phấn đấu trở thành nhà cung cấp dịch vụ viễn thông có chất lƣợng dịch vụ và phục vụ tốt nhất. Để làm đƣợc điều đó thì việc nâng cao chất lƣợng mạng GPON là một nhiệm vụ rất quan trọng và cần thiết.
Là một cá nhân hiện đang công tác tại Trung tâm Viễn thông Yên Thế – VNPT Bắc Giang, đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc đảm bảo chất lƣợng mạng GPON trên địa bàn, tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lƣợng mạng GPON tại Trung tâm Viễn thông Yên Thế – VNPT Bắc Giang” làm luận văn tốt nghiệp. Các kết quả của luận văn đƣợc áp dụng vào thực tế để mạng truy nhập quang công nghệ GPON của Trung tâm Viễn thông Yên Thế – VNPT Bắc Giang đƣợc khai thác một cách hiệu quả, vừa đảm bảo chất lƣợng dịch vụ cung cấp cho khách hàng, vừa đảm bảo nhu cầu phát triển dịch vụ của đơn vị. Luận văn tập trung tìm hiểu những đặc điểm kỹ thuật cơ bản của công nghệ mạng GPON, các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng mạng GPON và nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng mạng GPON tại Trung tâm Viễn thông Yên Thế – VNPT Bắc Giang. Luận văn đƣợc tổ chức thành 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Luan van 2 Chƣơng 1: Tổng quan về mạng quang thụ động GPON Chƣơng 2: Tình hình triển khai và chất lƣợng mạng GPON tại Trung tâm Viễn thông Yên Thế – VNPT Bắc Giang Chƣơng 3: Nghiên cứu nâng cao chất lƣợng mạng GPON tại Trung tâm Viễn thông Yên Thế – VNPT Bắc Giang Luan van 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG QUANG THỤ ĐỘNG GPON 1.
Khái niệm về PON và các cấu trúc PON đang đƣợc triển khai 1. Khái niệm về PON Mạng truy nhập cáp quang là mạng truy nhập hữu tuyến với môi trƣờng truyền dẫn từ tổng đài đến thuê bao là sợi cáp quang. Ƣu điểm của mạng cáp quang là dễ triển khai, tốc độ cao có thể đạt đƣợc đến hàng Gigabit thậm chí hàng trăm Gigabit tùy thuộc vào công nghệ sử dụng, khoảng cách truyền dẫn lớn đến hàng chục kilômét và giá thành cáp quang rẻ. Tuy nhiên, nhƣợc điểm là công nghệ xử lý phức tạp, thiết bị tổng đài và thiết bị đầu cuối giá thành cao.
PON là từ viết tắt của Passive Optical Network hay còn gọi là mạng quang thụ động (hình 1.1), là một hình thức truy cập mạng cáp quang, kiểu mạng kết nối điểm – đa điểm, trong đó các sợi quang làm cơ sở tạo nên kiến trúc mạng [11].1: Mô hình mạng quang thụ động Luan van 4 PON bao gồm một thiết bị đầu cuối dây quang (OLT – Optical Line Terminal) tại Tổng đài trung tâm của nhà cung cấp dịch vụ và các thiết bị mạng quang (ONUs – Optical Network Units) đặt ở phía ngƣời dùng cuối. Tín hiệu đƣờng xuống đƣợc phát quảng bá tới các thuê bao. Tín hiệu đƣờng lên đƣợc kết hợp bằng việc sử dụng giao thức đa truy nhập phân chia theo thời gian (TDMA), OLT sẽ điều khiển các ONU sử dụng các khe thời gian cho việc truyền dữ liệu đƣờng lên [11]. Mạng quang thụ động (PON) đƣợc xây dựng nhằm giảm số lƣợng các thiết bị thu, phát và sợi quang trong mạng thông tin quang FTTH.
PON là một mạng điểm tới đa điểm, một kiến trúc PON bao gồm một thiết bị đầu cuối kênh quang đƣợc đặt tại trạm trung tâm của nhà khai thác dịch vụ và các bộ kết cuối mạng cáp quang ONU/ONT (Optical Network Unit/Optical Network Terminator) đặt tại gần hoặc tại nhà thuê bao. Giữa chúng là hệ thống phân phối mạng quang ODN (Optical Distribution Network) bao gồm cáp quang, các thiết bị tách ghép thụ động. Mạng PON không chứa bất kỳ một phần tử tích cực nào cần phải sử dụng sự chuyển đổi điện – quang. Thay vào đó, PON bao gồm: Sợi quang, các bộ chia, bộ kết hợp, bộ ghép định hƣớng, thấu kính, bộ lọc,.
Điều này giúp cho PON có một số ƣu điểm nhƣ sau: - Không cần nguồn điện cung cấp nên không bị ảnh hƣởng bởi lỗi nguồn, có độ tin cậy cao và không cần phải bảo dƣỡng do tín hiệu không bị suy hao nhiều nhƣ đối với mạng có sử dụng các phần tử tích cực. Các bộ chia không cần cấp nguồn, có giá thành rẻ và có thể đặt ở bất kỳ đâu, không phụ thuộc vào các điều kiện môi trƣờng, không cần phải cung cấp năng lƣợng cho các thiết bị giữa tổng đài trung tâm và ngƣời dùng. Ngoài ra, ƣu điểm này còn giúp các nhà khai thác giảm đƣợc chi phí bảo dƣỡng, vận hành. - Công nghệ PON cho phép giảm số lƣợng dây dẫn và thiết bị tại Tổng đài trung tâm so với các kiến trúc điểm – điểm và nhƣ vậy sẽ giảm chi phí cáp quang và giảm chi phí cho thiết bị tại Tổng đài trung tâm do nó cho phép nhiều ngƣời sử dụng (8, 16, 32, 64 hoặc 128) chia sẻ chung một sợi quang nối tới Tổng đài trung tâm.
Luan van 5 - Mạng PON ngoài việc giải quyết các vấn đề về băng thông, nó còn có ƣu điểm là chi phí lắp đặt thấp do nó tận dụng đƣợc những sợi quang trong mạng đã có từ trƣớc. PON cũng dễ dàng và thuận tiện trong việc ghép thêm các ONU theo yêu cầu của các dịch vụ, trong khi đó việc thiết lập thêm các nút trong mạng tích cực khá phức tạp do việc cấp nguồn tại mỗi nút mạng, và trong mỗi nút mạng đều cần có các bộ phát lại. - PON còn có khả năng chống lỗi cao (cao hơn SONET/SDH). Do các nút của mạng PON nằm ở bên ngoài mạng, nên tổn hao năng lƣợng trên các nút này không gây ảnh hƣởng gì đến các nút khác.
Khả năng một nút mất năng lƣợng mà không làm ngắt mạng là rất quan trọng đối với mạng truy nhập, do các nhà cung cấp không thể đảm bảo đƣợc năng lƣợng dự phòng cho tất cả các đầu cuối ở xa. Tuy rằng, không thể phủ nhận những ƣu điểm nêu trên thì mạng GPON vẫn còn một số khuyết điểm: - Tăng băng thông tạm thời cho thuê bao khi có nhu cầu khó khăn, phức tạp. - Số lƣợng thuê bao bị ảnh hƣởng khi xảy ra sự cố nhiều và thời gian tìm ra lỗi lâu hơn so với mạng khác. - Khả năng bị nghe lén cao do dùng chung bộ chia.
- Chi phí nâng cấp cao do nhiều thuê bao trong một dây cáp, thông qua thiết bị chia ra nhiều dây hơn đến nhiều thuê bao. Các cấu trúc PON đang được triển khai 1. Đây là chuẩn mạng quang thụ động đầu tiên. Từng đƣợc sử dụng chủ yếu cho các ứng dụng thƣơng mại và trên nền ATM.
Tốc độ hoạt động là 155,52 Mbps hoặc 622,08 Mbps. Tốc độ cho mỗi thuê bao là 4,8 Mbps trong hệ thống 155,52 Mbps và 19,4 Mbps trong hệ thống 662,08 Mbps. Cấu trúc khung truyền dẫn cho APON: Luan van 6 - Đƣờng xuống: Ở đƣờng xuống, APON sử dụng công nghệ ghép kênh theo thời gian (trong đó, các tế bào gửi cho các ONU khác nhau đƣợc ghép kênh ở luồng xuống theo thời gian; đồng thời, trong các khung đƣờng xuống còn có các tế bào PLOAM (Physical Layer OAM – lớp vật lý OAM) chứa thông tin cấp phép để cho phép các ONU truyền dẫn đƣờng lên). - Đƣờng lên: Ở đƣờng lên, APON sử dụng công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian (mỗi ONU sau khi nhận đƣợc giấy phép từ OLT trong tế bào PLOAM đƣờng xuống sẽ truyền thông tin của mình vào đúng khe thời gian đƣợc phân; các tế bào của các ONU khác nhau sẽ đan xen với nhau về mặt thời gian).
Đồng thời tạo ra giao diện quản lý chuẩn gọi là OMCI, giữa OLT và ONU/ONT, cho phép các mạng cung cấp hỗn hợp. GPON GPON (Gigabit PON) là một sự phát triển của chuẩn BPON. GPON đƣợc mở rộng từ chuẩn BPON bằng cách tăng băng thông, nâng hiệu suất băng thông nhờ sử dụng gói lớn, có độ dài thay đổi và tiêu chuẩn hóa quản lý. Thêm nữa, chuẩn cho phép vài sự lựa chọn của tốc độ bit: Cho phép băng thông luồng xuống là 2,488 Mbps và băng thông luồng lên là 1,244 Mbps.
Phƣơng thức đóng gói GPON-GEM cho phép đóng gói lƣu lƣợng ngƣời dùng rất hiệu quả, với sự phân đoạn khung cho phép chất lƣợng dịch vụ QoS cao hơn phục vụ lƣu lƣợng nhạy cảm nhƣ truyền thoại và video [8]. GPON hỗ trợ tốc độ cao hơn, tăng cƣờng bảo mật và chọn lớp 2 giao thức (ATM, GEM, Ethernet tuy nhiên trên thực tế ATM chƣa từng đƣợc sử dụng). Điều đó cho phép GPON phân phối thêm các dịch vụ tới nhiều thuê bao. - GPON hỗ trợ đầy đủ các dịch vụ bao gồm thoại (TDM), các dịch vụ Ethernet nhƣ Video, Data, … Luan van 7 - Phạm vi về mặt vật lý của mạng là 20 km, trong khi đó phạm vi về mặt logic của mạng lên tới 60 km.
- Hỗ trợ cho việc lựa chọn các tốc độ bit khác nhau bao gồm: 622 Mbps, 1,25 Gbps, 2,5 Gbps cho luồng xuống và 1,25 Gbps dành cho luồng lên. - Khả năng vận hành khai thác bảo dƣỡng cao. Với các ƣu điểm trên GPON là hệ thống mạng truy nhập quang thụ động tiên tiến nhất hiện nay, có khả năng hỗ trợ truyền nhiều dịch vụ, với khả năng thiết lập các chế độ vận hành quản lý và bảo dƣỡng tốt nhất. EPON EPON hay GEPON (Ethernet PON) là một chuẩn IEEE.
EPON là mạng truy nhập quang thụ động PON dựa trên các công nghệ của mạng LAN Ethernet [10].