Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG XE BUÝT 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt 1. Cơ sở lý luận về dịch vụ vận tải hành khách và dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt 1.1 Các khái niệm về dịch vụ vận tải hành khách Dịch vụ là hoạt động sáng tạo có ích do con người tạo ra, nó không tồn tại dưới trạng thái sản phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhằm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời, thuận tiện và văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội của con người [20]. Theo quan điểm marketing, dịch vụ là các hoạt động, lợi ích hoặc thỏa mãn khách hàng được chào bán hoặc cung cấp liên quan đến việc bán hàng.
Quan niệm này coi dịch vụ là các hoạt động hỗ trợ liên quan đến việc bán hàng hóa cho người tiêu dùng. Theo quan điểm sản xuất, dịch vụ là phương thức hành động mà bên cung ứng có thể chuyển giao các giá trị cho khách hàng mà không dẫn đến quyền sở hữu, trong đó quá trình dịch vụ có hoặc không gắn với một sản phẩm vật chất. Về cơ bản, dịch vụ là một quá trình hoạt động tương tác giữa khách hàng và hệ thống dịch vụ nhằm chuyển giao giải pháp hoặc giải quyết vấn đề của khách hàng. Theo quan điểm giá trị, các hoạt động dịch vụ làm gia tăng giá trị như tính thuận tiện, thoải mái, sức khỏe hay giá trị sử dụng đối với khách hàng và/hoặc tài sản của khách hàng.
Theo quan điểm hệ thống, một số nhà nghiên cứu xem xét dịch vụ như là một hệ thống sản xuất chuyển đổi các yếu tố đầu vào thành các giá trị gia tăng đầu ra bằng các tiện tích hỗ trợ khách hàng không chỉ đơn thuần về ý nghĩa kinh tế. Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hóa, hành khách trong không gian và thời gian cụ thể để nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), vận tải là ngành sản xuất dịch vụ trong số 11 ngành dịch vụ cơ bản với 9 phân ngành theo các phương thức vận tải (đường biển, đường sông nội địa, đường hàng không, đường sắt, đường bộ, đường ống, dịch vụ phụ trợ vận tải và các dịch vụ vận tải khác). Trong đó, đối với mỗi c 6 phương thức vận tải, dịch vụ vận tải phân chia theo 2 đối tượng phục vụ gồm vận tải hàng hóa và vận tải hành khách [3].
Dịch vụ vận tải hành khách là tập hợp những phương thức, phương tiện vận chuyển hành khách, có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục, theo thời gian, hướng tuyến xác định. Phát triển dịch vụ vận tải hành khách là gia tăng giá trị dịch vụ bằng việc mở rộng quy mô cung ứng, nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng mạng lưới và đa dạng hóa chủng loại dịch vụ cho khách hàng nhằm mang lại hiệu quả cao hơn cho các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ [1]. Xe buýt là một loại xe có bánh lớn, chạy bằng động cơ và được chế tạo để chở nhiều người ngoài lái xe. Thông thường, xe buýt chạy trên quãng đường ngắn hơn so với những loại xe vận chuyển hành khách khác và tuyến xe buýt thường liên hệ giữa các điểm đô thị với nhau [21].
Ngoài ra, một đặc điểm để phân biệt xe buýt với xe khách là hành khách khi đi xe buýt chỉ được mang hành lý gọn nhẹ, không được mang theo hàng hóa hoặc đồ đạc cồng kềnh như đi xe khách. Dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt là dịch vụ vận chuyển hành khách bằng các loại xe buýt từ loại xe buýt nhỏ đến các loại xe buýt lớn trên những tuyến đường cố định, vào những khung giờ cố định, theo biểu đồ vận hành và giá cước quy định nhằm thỏa mãn nhu cầu đi lại hàng ngày của người dân.2 Phân loại dịch vụ vận tải hành khách Phân theo loại hình dịch vụ vận tải, có 4 loại hình dịch vụ vận tải hành khách: Một là, dịch vụ vận tải hành khách đường bộ: Đây là loại hình dịch vụ vận tải hành khách phổ biến nhất hiện nay. Với đặc điểm di chuyển thuận lợi, không chỉ tới được các địa điểm tập kết chung như bến xe, ga tàu, bến bãi… mà hiện nay nhiều công ty dịch vụ vận tải còn cung cấp dịch vụ đưa đón khách tận nhà. Dịch vụ này phù hợp cho cả số lượng hành khách lớn và nhỏ, phục vụ đầy đủ các loại hành khách khác nhau, chiều dài quãng đường khác nhau, đảm bảo an toàn hơn các loại hình dịch vụ vận tải hành khách khác.
Tuy nhiên, loại hình dịch vụ này có chi phí khá cao vì phải tính toán các khoản phí cầu đường, bến bãi, xăng xe, bảo dưỡng xe, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết,. c 7 Hai là, dịch vụ vận tải hành khách đường thủy: Từ xa xưa loại hình dịch vụ vận tải này đã phát triển với ưu điểm chi phí thấp, cùng một thời điểm có thể vận chuyện được khối lượng hành khách lớn, kèm thêm một khối lượng hàng hóa lớn nên chi phí tiết kiệm hơn nhiều so với các loại hình dịch vụ khác, tuy nhiên nhược điểm lớn nhất là tốc độ lưu thông chậm, phụ thuộc và bị ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố thời tiết. Ba là, dịch vụ vận tải hành khách bằng đường sắt: Đây là loai hình dịch vụ vận tải hành khách có tính an toàn cao ít phụ thuộc vào yếu tố thời tiết, tốc độ vận chuyển nhanh, giá thành vận chuyển rẻ, đặc biệt là khi quãng đường di chuyển càng xa thì chi phí sẽ rẻ hơn nhiều so với các loại hình vận tải hành khách khác. Tuy nhiên loại hình dịch vụ này bị hạn chế về mặt thời gian do phụ thuộc vào lịch trình cố định của tàu hỏa, số tuyến, số chuyến trên ngày ít.
Bốn là, dịch vụ vận tải hành khách bằng đường hàng không: Đây là loại hình dịch vụ vận tải hành khách tuy không phổ biến như các loại hình dịch vụ vận tải khác vì chi phí cao, hạn chế số lượng hành khách nhưng nó được đánh giá cao ở tốc độ vận chuyển nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, không chịu ảnh hưởng nhiều bởi những cản trở giao thông hoặc điều kiện tự nhiên, địa hình. Theo hình thức tổ chức hoạt động, dịch vụ vận tải hành khách có thể được phân chia thành vận tải hành khách công cộng, vận tải hành khách cá nhân và vận tải hành khách công vụ. Vận tải hành khách công cộng được hiểu là dịch vụ vận tải thỏa mãn nhu cầu đi lại mang tính chất thường xuyên của nhiều hành khách trên tuyến đường nhất định với giá cước quy định. Vận tải hành khách công cộng gồm: vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện, taxi, tàu điện ngầm, tàu điện trên cao, đường sắt nhẹ,.
Vận tải hành khách cá nhân là việc sử dụng phương tiện cá nhân để thỏa mãn nhu cầu đi lại mà không nhằm mục đích bán dịch vụ. Vận tải hành khách công vụ là phương thức vận tải sử dụng phương tiện vận tải thỏa mãn nhu cầu đi lại của người lao động phục vụ cho mục đích chung của một doanh nghiệp, tổ chức sở hữu hoặc thuê phương tiện đó.3 Đặc điểm và vai trò của dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt Vận tải hành khách bằng xe buýt có những đặc điểm riêng biệt so với các loại hình vận tải hành khách khác, trước hết là bởi sự khác nhau trong đặc điểm của các loại xe buýt và tần suất vận hành khai thác vận tải. Với thiết kế theo số lượng điểm đỗ và tần suất vận hành, xe buýt thường được triển khai vận hành theo các cấp độ khác nhau. Ở cấp độ thông thường, xe buýt được dừng đón - trả khách tại tất cả các điểm đỗ (tốc độ vận hành xe trung bình khoảng dưới 24 km/h).
Ở cấp độ xe buýt nhanh là một hình thức của cấp độ hạn chế điểm dừng với sự tăng cường tần suất vận chuyển, đèn tín hiệu ưu tiên, thanh toán vé tại nhà chờ, làn ưu tiên. Cấp độ cao nhất là cấp độ tốc hành, trong đó xe buýt chỉ đón khách tại hai điểm đầu cuối [19]. Thiết kế theo đặc tính của hành khách phục vụ, xe buýt được sử dụng theo tính chất của hành khách mà nó phục vụ, ví dụ như xe đưa đón công nhân viên, học sinh, sinh viên đi làm, đi học. Bên cạnh đó, dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt còn được triển khai theo hình thức xe buýt cộng đồng (thiết kế để đưa đón người già, người tàn tật, trẻ em), xe buýt phục vụ các sự kiện đặc biệt của thành phố, khu vực.
Dịch vụ vận tải hành khách bằng xe buýt được thiết kế theo tuyến đường phục vụ có thể là tuyến cố định hoặc tuyến linh động. Đối với tuyến linh động, về cơ bản dịch vụ VTHK bằng xe buýt vẫn theo hướng tuyến đã cố định, tuy nhiên, trong quá trình khai thác vận tải, xe buýt có thể thay đổi lộ trình nhằm đưa đón khách tại các điểm gần với hướng tuyến cố định. Loại hình này thường được vận hành với xe buýt nhỏ tại các khu vực có mật độ dân cư không cao. Một hình thức phân loại khác theo tuyến là xe buýt phục vụ kết nối các trung tâm thương mại (nhiều điểm đỗ, hành khách có chuyến đi ngắn, tốc độ xe buýt chậm) và xe buýt phục vụ kết nối các loại hình phương tiện (kết nối giữa các ga tàu điện, ga tàu điện với trung tâm thương mại và sân bay…).
Đối với thiết kế theo thời điểm trong ngày, c 9 dịch vụ xe buýt được điều chỉnh sao cho phù hợp các thời điểm khác nhau trong ngày và lưu lượng hành khách (giờ cao điểm, giờ thấp điểm). VTHK bằng xe buýt được coi là phương thức vận tải hành khách phổ biến nhất hiện nay ở các thành phố hoặc trung tâm đông đúc, mật độ dân số cao vì nó có tính cơ động cao, ít cản trở, hòa nhập với các loại hình vận tải giao thông đường bộ khác. Xe buýt có thể hoạt động trong điều kiện khó khăn về đường sá, thời tiết nên có thể tiếp cận đến các vùng chưa có hạ tầng phát triển một cách dễ dàng. Quá trình khai thác điều hành hệ thống xe buýt không quá phức tạp, có thể nhanh chóng điều chỉnh chuyến, lượt, hành trình, dễ dàng thay xe trong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng hoạt động chung của tuyến.