MỞ ĐẦU 1. Tín ấp t ết ủ đề tà Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, không chỉ mang đến doanh thu trực tiếp từ các lĩnh vực dịch vụ nhƣ khách sạn, tour tuyến, điểm tham quan mà còn tạo nguồn thu, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan khác nhƣ giao thông, ăn uống, giải trí, thƣơng mại và một số dịch vụ phụ trợ khác. Tuy nhiên, theo đánh giá của giới chuyên gia, đến nay khả năng cạnh tranh của ngành du lịch nƣớc ta vẫn còn thấp, thiếu những sản phẩm du lịch khác biệt; đầu tƣ phát triển thiếu đồng bộ, chắp vá kể cả những địa bàn trọng điểm. Trong quá trình đổi mới và hội nhập, Đảng và Nhà nƣớc ta đã đề ra những chủ trƣơng, quan điểm hết sức đúng đắn để phát triển du lịch.
Ngày 06/10/2017, Thủ tƣớng chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 103/NQ-CP về Chƣơng trình hành động của Chính phủ thực hiện theo Nghị quyết số 08- NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Theo đó, một trong những nhiệm vụ của Chƣơng trình hành động là: “Thực hiện thương quyền 5 về vận tải hàng không và chính sách „mở cửa bầu trời‟, tạo điều kiện cho các hãng hàng không trong nước và quốc tế mở các đường bay mới nối Việt Nam với các thị trường nguồn khách du lịch…”. Để đáp ứng tốt nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài nƣớc, nhiều loại hình du lịch đã đƣợc hình thành, các sản phẩm du lịch đa dạng và ngày càng phong phú. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, dịch vụ bay du lịch bằng máy bay trực thăng (MBTT) đã ra đời là sự tất yếu trong xu thế phát triển của ngành du lịch Việt Nam.
Những năm gần đây, dịch vụ này xuất hiện với tần suất nhiều hơn tại các trung tâm du lịch nhƣ: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu và một số địa phƣơng khác trên cả nƣớc và bƣớc đầu đã gặt hái đƣợc thành công. Theo số liệu của Tổng công ty trực thăng Luan van 2 Việt Nam, số giờ bay dịch vụ du lịch những năm gần đây có tỷ lệ tăng cao, năm 2017 lƣợng khách sử dụng dịch vụ đạt gần 9 nghìn lƣợt khách, tăng gần 5% so với năm 2016. Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực du lịch đã có những đánh giá rất khả quan về tiềm năng phát triển của loại hình du lịch mới này, ông Vũ Thế Bình (Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam) khẳng định: “Việc phát triển dịch vụ trực thăng du lịch sẽ là bước tiến mới của du lịch Việt Nam”. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, dịch vụ đã tồn tại một số hạn chế chƣa thể giải quyết nhƣ: cơ sở hạ tầng nghèo nàn, đa số các bãi đáp trực thăng là các bãi dã chiến không phù hợp với dịch vụ cao cấp nhƣ du lịch bằng máy bay trực thăng, chất lƣợng máy bay chƣa phù hợp với đối tƣợng khách hàng, điều kiện bay và thủ tục bay mất nhiều thời gian, chƣa kể chi phí quá cao so với khả năng chi trả của nhiều du khách.
Tất cả đã cản trở sự phát triển ổn định của sản phẩm du lịch này và ảnh hƣởng không nhỏ tới mức độ phát triển của toàn ngành du lịch Việt Nam. Với những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý dịch vụ bay du lịch bằng máy bay trực thăng ở Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp để góp phần lý giải nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cũng nhƣ đề xuất các kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý dịch vụ bay du lịch bằng trực thăng. Mụ t êu n ên ứu 2. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với công tác quản lý nhà nƣớc (QLNN) về dịch vụ bay du lịch bằng MBTT, đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy những kết quả đạt đƣợc, khắc phục những mặt tồn tại nhằm hoàn thiện công tác quản lý dịch vụ bay du lịch bằng MBTT ở Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể - Hệ thống hóa lý luận quản lý về dịch vụ bay du lịch bằng MBTT; - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý về dịch vụ bay du lịch bằng MBTT ở Việt Nam; - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị cơ bản nhằm hoàn thiện công tác quản lý dịch vụ bay du lịch bằng MBTT ở Việt Nam. Đố tƣợn và p ạm v n ên ứu 3. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động bay du lịch bằng MBTT bao gồm nhiều lĩnh vực nhƣ hoạt động không lƣu, hệ thống cất hạ cánh (CHC), hệ thống kỹ thuật hàng không… Luận văn tập trung nghiên cứu về công tác quản lý dịch vụ bay du lịch bằng MBTT ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Nghiên cứu công tác QLNN về dịch vụ bay du lịch đƣờng hàng không bằng phƣơng tiện máy bay trực thăng (bao gồm việc nghiên cứu từ hệ thống văn bản pháp quy, công tác quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bộ máy, đào tạo đội ngũ cán bộ công chức, đến công tác thanh tra, kiểm tra).
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2014 – 2017. Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa trong 5 năm tới. - Về không gian: Phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Phương pháp thu thập và xử lý thông tin - Thông tin đƣợc thu thập từ các công bố chính thức của các cơ quan nhà nƣớc, các nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức về du lịch trực thăng.
Những thông tin về tình hình phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) trong ngành du lịch và hàng không Việt Nam, các chính sách của các cơ quan trung ƣơng Luan van 4 và từng địa phƣơng đối với du lịch trực thăng và tiếp thu có chọn lọc một số kết quả của các công trình khoa học có liên quan đã đƣợc công bố trong quá trình nghiên cứu đề tài luận văn. - Sau khi thu thập, các thông tin đƣợc tiến hành phân loại, lựa chọn, sắp xếp thành các bảng số liệu để đƣa vào sử dụng trong nghiên cứu đề tài. - Sử dụng bảng tính Exel để tổng hợp số liệu và lên các biểu số liệu chi tiết. Phương pháp phân tích - Phương pháp phân tích tổng hợp: Luận văn vận dụng phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với việc lựa chọn, so sánh, đối chiếu, phân tích, đánh giá, xử lý khoa học và dự báo tình huống.
- Phương pháp phân tích thống kê kinh tế: Thu thập số liệu từ những tài liệu, báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nƣớc (QLNN) nhƣ: Cục hàng không Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải), Cục tác chiến (Bộ Quốc phòng), Tổng cục Du lịch, Tổng cục Thống kê, UBND và các Sở du lịch tỉnh, thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Vũng Tàu,…và một số cơ quan QLNN khác thuộc Chính phủ. Các tài liệu điều tra, khảo sát, thu thập số liệu thống kê và phân tích của các đề tài, dự án, các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố về vấn đề liên quan đến du lịch trực thăng, để sử dụng phân tích, đánh giá về công tác quản lý dịch vụ bay du lịch bằng MBTT ở Việt Nam. - Phương pháp so sánh: So sánh các chỉ tiêu, các hiện tƣợng kinh tế, xã hội đã đƣợc lƣợng hoá có nội dung, tính chất tƣơng tự nhau. So sánh các nhiệm vụ kế hoạch; so sánh qua các giai đoạn khác nhau; so sánh các đối tƣợng tƣơng tự; so sánh các yếu tố, hiện tƣợng cá biệt với trung bình hoặc tiên tiến.
So sánh kết quả hoạt động quản lý dịch vụ bay du lịch bằng MBTT qua các năm,. Biểu hiện bằng số: Có thể tính theo giá trị tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm (%). Luan van 5 - Phương pháp phân tổ: Những thông tin thứ cấp khi thu thập đƣợc sẽ tiến hành phân tổ, phân nhóm theo một số tiêu thức. Phƣơng pháp phân tổ sẽ giúp nhìn nhận rõ ràng những số liệu đã thu thập đƣợc để có thể đi đến kết luận chính xác nhất.
- Phương pháp chuyên gia chuyên khảo: Là phƣơng pháp thăm dò ý kiến của các chuyên gia, giáo viên hƣớng dẫn, các lãnh đạo, đồng nghiệp có kinh nghiệm đánh giá về hoạt động quản lý bay du lịch và dịch vụ bay du lịch bằng trực thăng ở Việt Nam nhằm thu thập ý kiến đóng góp, kinh nghiệm quý báu và thực tế. Tổn qu n tà l ệu n ên ứu 1. Phan Huy Đƣờng (2015), Giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, đặc biệt là khi vai trò của “bàn tay vô hình” trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại có nhiều bất cập khiến nền kinh tế bất ổn thì vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nƣớc ở mỗi quốc gia đòi hỏi phải có sự tƣơng thích nhằm ổn định và tạo đà cho nền kinh tế đất nƣớc phát triển bền vững.
Ở Việt Nam, các nội dung của QLNN về kinh tế trong nền kinh tế thị trƣờng cũng đang dần đƣợc hoàn thiện, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trƣởng kinh tế. Chính vì vậy, việc học tập, nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn những kiến thức cơ bản về QLNN nói chung, QLNN về kinh tế nói riêng có ý nghĩa đặc biệt đối với sinh viên, học viên và những ngƣời nghiên cứu kinh tế. QLNN về kinh tế là môn khoa học giáp ranh giữa kinh tế học, quản trị học, quản trị kinh doanh, khoa học quản lý và nhà nƣớc pháp quyền, có đối tƣợng nghiên cứu là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật về sự ra đời, hình thành, tác động qua lại của các mối quan hệ, giữa các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế của một quốc gia. Luan van 6 Giáo trình QLNN về kinh tế đƣợc biên soạn trên cơ sở đúc kết lý luận và thực tiễn QLNN về kinh tế trong nền kinh tế thị trƣờng hiện đại và trong quá trình đổi mới nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Giáo trình đã khái quát hóa các khái niệm, phạm trù, các yếu tố, bộ phận cấu thành, các chức năng, nguyên tắc, phƣơng pháp, tổ chức bộ máy, thông tin và quyết định quản lý, cán bộ, công chức QLNN về kinh tế.