Tổng quan nghiên cứu

Xã Gia Phương thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình có diện tích tự nhiên 5,83 km², quy mô dân số 4.289 người và mật độ dân số đạt 736 người/km². Vùng đất này sở hữu hệ thống gồm 6 công trình tôn giáo, tín ngưỡng lâu đời, trong đó có 3 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia. Đây là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương phát tích của người anh hùng dân tộc Đinh Bộ Lĩnh cùng danh tướng Định Quốc công Nguyễn Bặc. Trước tác động của khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa trung bình 1.000 mm/năm kết hợp áp lực đô thị hóa, nhiều hạng mục kiến trúc cổ đang đứng trước nguy cơ xuống cấp và hư hại cấu kiện.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống di tích lịch sử văn hóa tại địa phương, từ đó phát hiện các rào cản về cơ chế, nhân lực và nguồn lực tài chính. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc xây dựng hệ thống giải pháp quản lý khoa học, nâng cao hiệu lực thi hành pháp luật di sản, gắn kết công tác bảo tồn với định hướng phát triển du lịch bền vững.

Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại xã Gia Phương, huyện Gia Viễn; phạm vi thời gian khảo sát sâu từ khi Luật Di sản văn hóa năm 2001 có hiệu lực đến năm 2018. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp cơ sở dữ liệu xác thực cho cơ quan quản lý, hướng đến mục tiêu nâng cao 100% năng lực bảo vệ nguyên trạng di tích gốc và tạo tiền đề thúc đẩy tăng trưởng lượng khách du lịch hành hương từ 15% đến 20% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý học hiện đại của Henri Fayol và Frederick Taylor về các chức năng hoạch định, tổ chức, điều hòa và kiểm soát nguồn lực nhằm tối ưu hóa hiệu quả vận hành bộ máy quản lý di sản. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp lý thuyết quản lý nhà nước về văn hóa, nhấn mạnh vai trò điều tiết của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong việc bảo tồn vốn di sản dân tộc.

Mô hình nghiên cứu triển khai theo cơ chế phân cấp quản lý hành chính 4 cấp từ Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, Sở Văn hóa và Thể thao, Ủy ban nhân dân huyện Gia Viễn, Phòng Văn hóa và Thông tin đến Ủy ban nhân dân xã Gia Phương và Ban quản lý di tích cơ sở căn cứ theo Quyết định số 34/2015/QĐ-UBND. Hệ thống khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: di sản văn hóa vật thể, di tích lịch sử văn hóa kiến trúc nghệ thuật, quản lý văn hóa và xã hội hóa hoạt động bảo tồn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp giữa tài liệu thứ cấp (hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, báo cáo quản lý giai đoạn 2010 - 2017) và dữ liệu sơ cấp thu thập thực địa. Luận văn tiến hành khảo sát toàn diện 6 điểm di tích trên địa bàn xã Gia Phương và thực hiện phỏng vấn sâu một cỡ mẫu gồm 25 cá nhân, bao gồm 6 cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện và cấp xã (trong đó 4 cán bộ Ban Văn hóa Thông tin xã đạt 100% trình độ đại học chuyên ngành), 4 thủ từ phụ trách di tích cùng 15 người dân bản địa và du khách.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được áp dụng nhằm thu thập dữ liệu chuyên sâu từ các chủ thể trực tiếp tham gia quản trị và thụ hưởng di sản. Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích - tổng hợp tư liệu, khảo sát điền dã và tiếp cận liên ngành (quản lý văn hóa, bảo tàng học, dân tộc học, mỹ thuật học) nhằm đánh giá chuẩn xác cả hai chiều cạnh: tính bền vững của vật chất kiến trúc và sức sống của không gian văn hóa phi vật thể. Tiến trình nghiên cứu được triển khai liên tục từ năm 2016 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hệ thống di sản của xã Gia Phương có giá trị lịch sử và nghệ thuật đặc sắc với 3 di tích quốc gia tiêu biểu: Đền Văn Bòng (Đền thờ Đinh Bộ Lĩnh, xây dựng thời Nguyễn năm 1880, trùng tu năm 1936), Nhà thờ và Mộ Nguyễn Bặc (thành lập từ thế kỷ XVII) và Lăng phát tích tổ họ Đinh kết hợp Chùa Kỳ Lân. Đền Văn Bòng có diện tích khuôn viên rộng khoảng 3 sào Bắc Bộ, lưu giữ pho tượng Vua Đinh bằng gỗ mít cao 2 m, chu vi vòng bụng 1,5 m được chạm khắc sơn son thếp vàng tinh xảo.

Thứ hai, bộ máy quản lý văn hóa cơ sở đã được thành lập đầy đủ nhưng cơ cấu chuyên môn sâu còn mỏng. Ban Văn hóa Thông tin xã gồm 4 nhân sự đảm nhiệm theo dõi 4 thôn có di tích, tuy nhiên tỷ lệ cán bộ có chứng chỉ đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật tu bổ, phục hồi kiến trúc gỗ cổ chỉ chiếm dưới 20%.

Thứ ba, nguồn lực xã hội hóa đóng vai trò trụ cột trong công tác trùng tu. Giai đoạn 2010 - 2016, nguồn vốn huy động từ đóng góp tự nguyện của nhân dân, các dòng họ và kiều bào chiếm trên 75% tổng kinh phí tu bổ di tích, trong khi ngân sách nhà nước chỉ đáp ứng khoảng 25%.

Thứ tư, hiện trạng di tích có sự phân hóa rõ nét. Khoảng 50% di tích (điển hình là Đền Văn Bòng) duy trì hiện trạng kiến trúc tương đối vững chắc, trong khi 50% còn lại (Nhà thờ Nguyễn Bặc và Chùa Hang) xuất hiện hiện tượng mối mọt, rêu mốc xâm thực và xuống cấp cảnh quan phụ trợ do từng chịu tổn thất qua các mốc chiến tranh năm 1948 và 1966.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ việc thiếu vắng quy chế kiểm soát chuyên môn liên ngành giữa cơ quan văn hóa, tài nguyên và xây dựng. Việc tiếp nhận và quản lý nguồn thu công đức còn mang tính tự phát ở các tiểu ban khánh tiết dòng họ, chưa có tài khoản ngân sách thống nhất để thanh quyết toán theo quy chuẩn nhà nước.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công trình khảo sát tại huyện Yên Thành (Nghệ An) và đền Kim Liên (Hà Nội), khẳng định bức tranh chung tại các di tích nông thôn đồng bằng Bắc Bộ là áp lực kinh phí phụ thuộc nặng nề vào nguồn xã hội hóa.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua bảng tổng hợp lượng khách du lịch tại Đền Văn Bòng giai đoạn 2010 - 2017 với mức tăng trưởng bình quân 10-12%/năm, đồng thời thể hiện qua biểu đồ cơ cấu tài chính với tỷ lệ 75% vốn cộng đồng đối trọng 25% vốn ngân sách. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuẩn hóa quy trình tiếp nhận công đức và quy hoạch tu bổ theo đúng tinh thần Nghị định số 70/2012/NĐ-CP của Chính phủ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền và phổ biến pháp luật di sản: Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ người dân hiểu rõ Luật Di sản văn hóa lên trên 85% thông qua việc tổ chức định kỳ 12 lớp tập huấn và buổi sinh hoạt văn hóa chuyên đề mỗi năm; đơn vị chủ trì thực hiện là Ủy ban nhân dân xã phối hợp Ban Văn hóa Thông tin xã Gia Phương trong giai đoạn 2019 - 2021.

Thứ hai, hoàn thiện quy chế tài chính và quản lý nguồn công đức: Thiết lập cơ chế công khai, minh bạch 100% các khoản đóng góp xã hội hóa và tiền giọt dầu theo Quyết định số 34/2015/QĐ-UBND; mục tiêu triệt tiêu thất thoát tài chính; do Ban Quản lý di tích xã và Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Gia Viễn giám sát thường xuyên từ quý 1/2019.

Thứ ba, bồi dưỡng năng lực bảo tồn kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ: Tổ chức đào tạo nghiệp vụ phòng chống mối mọt, bảo quản cấu kiện gỗ lim, gỗ mít cho 100% thành viên ban quản lý và tiểu ban di tích thôn; thực hiện bởi Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình với lộ trình định kỳ 6 tháng/lần giai đoạn 2019 - 2022.

Thứ tư, kết nối tuyến điểm phát triển du lịch di sản bền vững: Tích hợp Đền Văn Bòng, Chùa Kỳ Lân và Nhà thờ Nguyễn Bặc vào tuyến du lịch trọng điểm đường Vua Đinh (tỉnh lộ 477B) nối Cố đô Hoa Lư với động Hoa Lư; hướng đến mục tiêu tăng trưởng lượt khách tham quan và doanh thu dịch vụ địa phương thêm 25%; thực hiện bởi Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình, Ủy ban nhân dân huyện Gia Viễn và các doanh nghiệp lữ hành giai đoạn 2019 - 2025.

Thứ năm, tăng cường thanh tra và xử lý vi phạm không gian di tích: Duy trì đội tuần tra liên ngành kiểm tra thực địa tối thiểu 1 lần/tháng, xử lý dứt điểm 100% hành vi xâm lấn mốc giới bảo vệ di tích theo Nghị định số 98/2010/NĐ-CP; cơ quan chủ quản là Thanh tra Sở Văn hóa và Thể thao cùng Công an xã Gia Phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý nhà nước về văn hóa tại Ủy ban nhân dân cấp huyện và xã có thể ứng dụng trực tiếp mô hình tổ chức bộ máy, quy trình phân cấp quản lý và khung tiêu chí kiểm tra, giám sát di tích đã xếp hạng theo đúng pháp luật hiện hành.

Ban quản lý di tích cơ sở, ban khánh tiết và đại diện các dòng họ (họ Đinh, họ Nguyễn) tiếp cận tài liệu nhằm chuẩn hóa phương thức quản lý tài chính công đức minh bạch, đồng thời nắm bắt quy trình phục dựng nghi lễ cổ truyền như tế Cửu khúc và nghi thức rước lửa thiêng từ Đền Văn Bòng về Cố đô Hoa Lư.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản học, Bảo tàng học sử dụng công trình như một nghiên cứu điển hình về phương pháp khảo sát thực địa, phân tích số liệu tu bổ và đánh giá tính liên ngành trong bảo tồn di sản nông thôn.

Doanh nghiệp lữ hành và các chuyên gia phát triển sản phẩm du lịch khai thác hệ thống dữ liệu lịch sử để xây dựng các tour du lịch văn hóa - tâm linh mới trên trục hành lang đường Tiến Yết, kết nối các điểm di tích thời Đinh - Tiền Lê tại Ninh Bình.

Câu hỏi thường gặp

Xã Gia Phương hiện sở hữu bao nhiêu di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia?

Địa phương sở hữu 3 di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên tổng số 6 di tích toàn xã, bao gồm Đền Văn Bòng (Đền thờ Đinh Bộ Lĩnh), Nhà thờ và Mộ Nguyễn Bặc cùng Lăng phát tích tổ họ Đinh kết hợp Chùa Kỳ Lân. Các công trình này được vinh danh nhờ giá trị kiến trúc nghệ thuật thời Nguyễn và dấu ấn lịch sử thế kỷ thứ X.

Nguồn vốn dùng để tu bổ các di tích tại xã Gia Phương được huy động từ những kênh nào?

Nguồn vốn trùng tu hình thành từ hai nguồn chính: ngân sách nhà nước cấp và đóng góp xã hội hóa. Trong giai đoạn 2010 - 2016, nguồn lực xã hội hóa từ các dòng họ, nhân dân địa phương và khách thập phương chiếm trên 75% tổng kinh phí thực hiện, khẳng định vai trò nòng cốt của cộng đồng bản địa.

Nghi thức rước lửa tại Đền Văn Bòng mang ý nghĩa văn hóa và lịch sử như thế nào?

Nghi lễ rước lửa diễn ra từ ngày mùng 9 đến 11 tháng 3 âm lịch, khởi kiệu từ Đền Văn Bòng di chuyển qua đường Vua Đinh về Đền Vua Đinh Tiên Hoàng tại Cố đô Hoa Lư. Nghi thức biểu trưng cho sự kết nối cội nguồn từ nơi phát tích ấu thơ của vị anh hùng dân tộc tới kinh đô Đại Cồ Việt.

Những khó khăn lớn nhất trong công tác bảo quản cấu kiện di tích tại địa phương là gì?

Thách thức lớn nhất gồm tác động tiêu cực của khí hậu nóng ẩm gây nấm mốc, sự xâm thực của mối mọt lên hệ thống cột kèo bằng gỗ lim, gỗ xoan cùng việc thiếu hụt đội ngũ chuyên gia bảo quản cổ vật thường trực tại địa bàn cấp xã.

Văn bản pháp lý cấp tỉnh nào quy định trực tiếp cơ chế quản lý di tích tại Ninh Bình?

Quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích trên địa bàn tỉnh Ninh Bình được điều chỉnh trực tiếp bởi Quyết định số 34/2015/QĐ-UBND ngày 14/12/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình, xác định rõ trách nhiệm của các cấp hành chính cơ sở.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật của 3 di tích cấp quốc gia và các cơ sở tín ngưỡng trên địa bàn xã Gia Phương.
  • Đánh giá trung thực cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý văn hóa xã gồm 4 cán bộ chuyên trách, đồng thời chỉ rõ sự đóng góp vượt trội trên 75% từ nguồn vốn xã hội hóa trong hoạt động tu bổ.
  • Nhận diện các điểm nghẽn trọng yếu về nguy cơ xuống cấp vật lý của di tích gỗ, hạn chế về năng lực kỹ thuật bảo quản và sự thiếu đồng bộ trong kiểm soát nguồn thu công đức.
  • Đề xuất hệ thống 5 giải pháp đồng bộ kết hợp hoàn thiện cơ chế phân cấp, nâng cao chuyên môn nhân lực, kiểm soát tài chính minh bạch và kết nối du lịch di sản bền vững.
  • Xác lập khung thời gian triển khai giai đoạn 2019 - 2025 gắn liền với các định hướng phát triển du lịch của tỉnh Ninh Bình theo Nghị quyết số 15-NQ/TU.

Công trình là tài liệu nghiên cứu khoa học có giá trị ứng dụng cao cho công tác quản lý di sản tại cơ sở. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu cùng toàn thể cộng đồng cần tích cực chung tay hiện thực hóa các giải pháp nêu trên nhằm bảo vệ vẹn nguyên di sản lịch sử văn hóa quê hương Vua Đinh cho thế hệ mai sau.