chương 1 Luật Di sản văn hóa 2001 và điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Di sản văn hóa 2009 quy định: Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, 12 trình diễn và các hình thức khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa ,danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia [38, tr. Như vậy, DSVH chính là thành quả của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của các thế hệ người Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử; phản ánh tiến trình phát triển, thành tựu và khả năng của chính dân tộc đó; là minh chứng sống động cho sự vận động, giao thoa và phát triển về mọi mặt của đời sống xã hội, đồng thời phản ánh những đặc trưng cơ bản để làm rõ sự khác nhau giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa quốc gia này với quốc gia khác trong môi trường, cảnh quan cụ thể của không gian và thời gian.
Di tích và di tích lịch sử văn hóa * Di tích Theo thuật ngữ Hán Việt: “Di tích” được hiểu như sau, di: là sót lại, rớt lại, để lại; tích: là tàn tích, dấu vết. Di tích là tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ [1,tr. Di tích là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu giữ lại [1, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam cho biết: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành khảo cổ học, sử học,.
Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [22, tr. * Di tích lịch sử văn hóa Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên DSVH. Khái niệm về DTLSVH được đề cập ở nhiều văn bản khác nhau. Ở văn bản quốc tế khái niệm về DTLSVH đã được nêu ra trong Điều 1 Hiến 13 chương Venice – Hiến chương quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu di tích và Di chỉ (1964): “Khái niệm di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn thuần mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử.
Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa” [13, tr. Theo khái niệm trong Hiến chương quốc tế các di tích ở xã Gia Phương là đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là các công trình kiến trúc (đền thờ Đinh Bộ Lĩnh, nhà thờ Nguyễn Bặc). Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành năm 2001, tại điều 4 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [38]. Đối chiếu với khái niệm trong Luật Di sản văn hóa đã nêu ra hai di tích ở xã Gia Phương được xếp hạng đều là các công trình xây dựng, trong công trình kiến trúc, các cơ sở phật giáo, tín ngưỡng đều có chứa đựng những di vật, cổ vật thuộc công trình kiến trúc có giá trị lịch sử văn hóa.
Tại khoản 1, điều 28 của Luật Di sản văn hóa quy định: Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: (1) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương. (2) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử. (3) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu. 14 (4) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [38, tr.
Căn cứ vào các tiêu chí đã được nêu ra trong Luật Di sản văn hóa, di tích ở xã Gia Phương đều được xác định là công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị góp phần làm rõ giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật tương ứng với niên đại lịch sử ra đời của di tích. Quản lý và quản lý văn hóa * Quản lý Theo thuật ngữ Hán-Việt thì “Quản lý” có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau: “quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa vào thế phát triển. Theo thuật ngữ tiếng Anh “Quản lý” được viết là “Management”, đặc trưng cho quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thường là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài chính, vật tư, trí thực và giá trị vô hình). Có thể nhận thấy quản lý là sản phẩm hoạt động của con người, chính con người là chủ thể tạo ra hoạt động quản lý; trải qua quá trình lao động sản xuất con người làm việc cùng nhau và nhận ra rằng cần có sự liên kết, phối hợp và phân công.
Các hoạt động lao động chung cần có sự thống nhất và được tổ chức hợp lý nhằm tạo nên sự đoàn kết, sức mạnh để đạt được những mục tiêu nhất định. Quản lý là một nội dung được nghiên cứu rộng rãi và phổ biến vì thế có nhiều cách tiếp cận và những định nghĩa khác nhau, mỗi quan niệm hay cách định nghĩa này được đưa ra từ những góc độ tiếp cận khác nhau, phản ánh những mặt, khía cạnh khác nhau của quản lý qua đó giúp chúng ta có được cái nhìn đa chiều về quản lý. 15 Các Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” [27, tr.29] giải thích cho nội dung này, Các Mác đã từng viết: “Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [27, tr.Angghen thì: “Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng hoạt động chung với nhau, khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người”[28, tr.Taylor thì: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó biết rằng họ đã hoàn thành công việc đó một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo cách tiếp cận của Taylor thì nhà quản lý phải xác định được các mục tiêu của mình và tổ chức cho các thành viên khác thực hiện mục tiêu đó. Ở đây quản lý cũng được tiếp cận ở góc độ hiệu quả [17, tr. Các tác giả của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [18, tr. Vũ Văn Dân và Võ Nguyên Du thì cho rằng: “Quản lý là tác động của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý trong một tổ chức (hay một hệ thống xã hội) với những phương pháp vừa có tính khoa học lại vừa có tính nghệ thuật, nhằm đạt được mục tiêu chung cũng như mục tiêu riêng của các đối tượng trong tổ chức” [17, tr.
Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức, bản chất của 16 quản lý và hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Như vậy, quản lý có thể được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu định trước.
Trong trường hợp nghiên cứu của luận văn, sự tác động của các chủ thể quản lý, các cấp của đối tượng quản lý là các DTLSVH đã được xếp hạng quốc gia thuộc loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật. * Quản lý văn hóa Quản lý văn hóa là thuật ngữ mới, ở đây luận văn tập trung nghiên cứu về khái niệm Quản lý hoạt động văn hóa. Quản lý nhà nước về văn hóa mang tính chất đặc thù, gắn với công tác tư tưởng, quyền lực nhà nước. Quản lý văn hóa sẽ được Nhà nước quản lý thông qua Hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách, nhằm đảm bảo sự phát triển của nền văn hóa của toàn dân tộc.
Quản lý nhà nước về văn hóa thuộc chức trách của các đơn vị Nhà nước (Chính phủ, UBND, Bộ, Sở, Phòng) thông qua hệ thông pháp luật, thể chế, chính sách của nhà nước … bất kỳ hoạt động văn hóa nào cũng cần có sự quản lý của Nhà nước. Nhà nước đảm bảo một phần quan trọng trực tiếp quản lý công trình văn hóa và những cơ sở trực tiếp phục vụ nhu cầu văn hóa của nhân dân.