phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 03 chương như sau: 11 Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa và tổng quan tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn xã Thọ Diên huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch trên địa bàn xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Định hướng, dự báo và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn xã Thọ Diên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa gắn với phát triển du lịch. 12 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THỌ DIÊN, HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA 1.
Cơ sở lý luận về quản lý di tích lịch sử - văn hóa 1. Một số khái niệm cơ bản + Khái niệm Di tích Theo Đại từ điển tiếng Việt giải thích: Di tích là các dấu vết của quá khứ, chủ yếu là nơi cư trú và mộ táng của người xưa được khoa học nghiên cứu. Theo nghĩa di tích văn hóa thì nó là di sản văn hóa bất động [54, tr. Như vậy, di tích là tàn tích, dấu vết còn lại của quá khứ.
Di tích là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu giữ lại Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm Di tích là những dấu tích, vết tích vật chất có giá trị trong quá khứ trải qua sự biến thiên của lịch sử, sự dầm mưa dãi nắng, qua thời gian còn tồn tại cho đến ngày nay [53]. Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, những loại hình được coi như di tích là [53]: - Di tích kiến trúc: các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội họa kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. - Nhóm công trình xây dựng: các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. 13 Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm di chỉ là các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học và xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu [53].
Theo Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới thì khái niệm di vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; Cổ vật được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ 100 năm tuổi trở lên; Bảo vật quốc gia được hiểu là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quí hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học. Theo giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn hóa đưa ra một khái niệm khoa học về di tích như sau: “Di tích là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại” [28, tr. Như vậy, Di tích là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể, khách quan; nó không những là sự kết tinh giữa cảnh quan thiên nhiên và những giá trị lao động do con người trong lịch sử sáng tạo ra mà còn chứa đựng những giá trị điển hình về lịch sử, văn hóa, khoa học. + Khái niệm Di tích lịch sử - văn hóa Hiểu rõ về khái niệm di tích lịch sử - văn hóa là hiểu rõ về thành tố quan trọng cấu thành nên di sản văn hóa.
Di tích lịch sử - văn hóa không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là minh chứng của một nền văn minh cụ thể, phát triển quan trọng hay một sự kiện lịch sử. Di tích lịch sử - văn hóa là bộ phận cấu thành quan trọng của di sản văn hóa. Di tích là những gì còn lại qua thời gian; là những nguồn sử liệu trực tiếp, cho những thông tin quan 14 trọng để khôi phục các trang sử dân tộc. Đó là những tài sản quý giá mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế, qua di tích lịch sử văn hóa, ta hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa dân tộc.Trong các cuốn Đại từ điển tiếng Việt, di tích lịch sử văn hóa được hiểu là: “Tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phẩm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại” [54].
Theo Điều 1, Hiến chương Quốc tế về Bảo tồn và Trùng tu Di tích và Di chỉ (thường được gọi là Hiến chương Venice) thì khái niệm di tích LSVH: Không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử [23, tr. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam cho biết: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [54]. Theo Luật Di sản Văn hóa do Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [41]. Ở đây, có thể hiểu rộng ra các công trình xây dựng, địa điểm đó là các tòa nhà, đài tưởng niệm, quảng trường, khu phố… gắn với các sự kiện lịch sử, các di chỉ khảo cổ, các địa điểm gắn với hoạt động tôn giáo tín ngưỡng… Theo điều 28 Luật Di sản văn hóa quy định Di tích LSVH [41] phải có một trong các tiêu chí sau: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; 15 c) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; d) Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ; đ) Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử [41, tr.
Theo điều 11 của Nghị định số: 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa thì di tích được phân ra thành 04 loại hình [20]: Một là, di tích khảo cổ học gồm những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật, đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ; Hai là, loại hình di tích lịch sử bao gồm những công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc, của địa phương hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc; Ba là, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: công trình kiến trúc, nghệ thuật quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam; Bốn là, loại hình di tích danh lam, thắng cảnh. Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù [20]. Di tích được xếp hạng theo như sau: - Di tích quốc gia đặc biệt: là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia. 16 Di tích quốc gia đặc biệt được địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ VHTT&DL, Thủ tướng chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghị tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới.
- Di tích quốc gia: là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia. Di tích quốc gia được địa phương lập hồ sơ, trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ VHTT&DL ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia. + Di tích cấp tỉnh: là di tích của địa phương. Di tích cấp tỉnh được địa phương lập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Sở VHTT&DL, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xếp hạng di tích cấp tỉnh.
+ Khái niệm Quản lý Khái niệm về quản lý được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra; mỗi ngành khoa học đều có những đối tượng quản lý riêng phù hợp với lĩnh vực nghiên cứu mà đưa ra những khái niệm quản lý khác nhau. Trong Đại từ điển tiếng Việt, “quản lý” được hiểu là việc tổ chức, điều khiển hoạt động của một số đơn vị, cơ quan; việc trông coi, gìn giữ và theo dõi việc gì. Quản lý là một hoạt động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn, từ đơn giản đến phức tạp.