Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Di sản văn hóa Việt Nam - Di sản văn hóa Việt Nam Là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Việt Nam. - Di sản văn hóa vật thể Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Di tích lịch sử văn hóa Thuộc di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử- văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học. Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương. 8 Luan van - Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử. - Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.
- Công tình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật. Di tích lịch sử văn hóa là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm - Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc. - Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam. - Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, và hệ sinh thái dặc thù.
Di tích lịch sử - văn hóa được phân loại như sau - Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia - Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh 9 Luan van - Di tích lịch sử văn hóa cấp huyện - Di tích lịch sử văn hóa cấp xã 1. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa - “Quản lý” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ “sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của các chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức) đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người, để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra của tổ chức và đúng ý chí của nhà quản lý, với chi phí thấp nhất. Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể quản lý vào khách thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức, quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp. - “Quản lý nhà nước” là thuật ngữ chỉ sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung. Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp. Trình độ xã hội hóa càng cao thì yêu cầu quản lý và vai trò của quản lý ngày càng tăng lên. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ 10 Luan van máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Quản lý nhà nước về văn hóa là thông qua những giải pháp về pháp luật, thể chế, chính sách, kế hoạch… của nhà nước để quản lý các giá trị vật chất và tinh thần, quản lý những hoạt động văn hóa theo đúng đường lối chủ trương của Đảng đồng thời đảm bảo quyền tự do dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hóa, xác lập vai trò, vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc. Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa là sự tác động có định hướng trên cơ sở quyền hành pháp của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước tới hành vi, hoạt động của cá nhân hoặc tổ chức trong lĩnh vực văn hóa nhằm mục tiêu bảo vệ, giữ gìn di sản, các di tích lịch sử - văn hóa và làm cho giá trị các di sản, di tích lịch sử - văn hóa được phát huy theo chiều hướng tích cực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần của nhân dân. Khái niệm quản lý di tích lịch sử gắn với phát triển kinh tế văn hóa xã hội Như trên đã trình bày, quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục đích nhất định. Mục đích ở đây chính là thông qua quản lý để bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử.
Bảo tồn không có nghĩa là "hoài cổ, hoài niệm", có tính "chiêm ngưỡng" đơn thuần, mà bảo tồn để phát triển, phát huy. Trong phát triển, phát huy có phát huy về giá trị tinh thần (giáo dục truyền thống cội nguồn, bản sắc) và một điều hết sức quan trọng chính là phát triển và phát huy về giá trị kinh tế (tăng trưởng kinh tế trong tỷ trọng nền kinh tế). 11 Luan van Sự tăng trưởng và phát triển ấy không tự di tích lịch sử làm nên thay đổi sự tăng trưởng mà phải thông qua yếu tố về cơ chế, chính sách trên cơ sở những giá trị của di tích lịch sử (vé tham quan, dịch vụ du lịch, dịch vụ lưu trú,…) để tăng nguồn thu, phát triển kinh tế. Sự phát triển và tăng trưởng ấy muốn bền vững phải thông qua hoạt động quản lý, đó là sự tác động của chủ thể (hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra) đến đối tượng quản lý (di tích lịch sử; đến các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác các giá trị của di tích lịch sử).
Với ý nghĩa đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm quản lý di tích lịch sử gắn với phát triển kinh tế, văn hóa xã hội như sau: Là quá trình tác động liên tục của chủ thể (Nhà nước: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Ủy ban nhân dân tỉnh; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các ngành hữu quan, chính quyền các cấp.) lên đối tượng quản lý (di tích lịch sử; các tổ chức, cá nhân đang trực tiếp quản lý, khai thác di tích lịch sử) bằng hoạch định cơ chế, chính sách, bằng pháp luật, bằng tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra để nhằm đạt được mục đích bảo tồn và phát huy giá trị của di tích (cả giá trị tinh thần và giá trị kinh tế) thông qua hoạt động du lịch và ngược lại. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa 1. Xuất phát từ vai trò, giá trị của di tích lịch sử văn hóa Nước Việt Nam trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những trang sử hào hùng của dân tộc được ghi lại qua nhiều loại hình sử liệu khác nhau: di tích - di vật, hình ảnh, chữ viết, ngôn ngữ truyền miệng. Trong số những nguồn sử liệu ấy thì di tích lịch sử - văn hóa đóng vai trò như một nguồn sử liệu vật chất quan trọng nhất.
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia cho chúng ta những thông tin trực tiếp về hoạt động của con người trong quá khứ và giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử có những bằng chúng cụ thể để khẳng định sự có mặt của cộng đồng dân cư đã sống và tồn tại trên mảnh đất này. 12 Luan van Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đụng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra. Di tích lịch sử - văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá khứ, di tích là những gì còn lại so với thời gian, những thông tin trực tiếp từ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và sử liệu từ các di vật có trong di tích góp phần nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam. Chúng ta có thể nhận biết kiến trúc của các di tích lịch sử - văn hóa trải qua các thời đại thông qua các dấu tích, di vật còn sót lại.
Ví dụ, chúng ta có thể biết được kiến trúc các ngôi đình làng đa dạng ở khu vực đồng bằng sông Hồng thay đổi qua các thời kỳ, dựa vào dấu tích còn lại của kiến trúc đình làng người ta có thể suy ra niên đại của các ngôi đình, chẳng hạn như những ngôi đình có niên đại trước sớm hơn thường có ván sàn đình những ngôi đình có niên đại sau muộn hơn thường không có ván sàn đình.