Chương 1 KHU DI TÍCH CÓ LOA: LỊCH SỨ VÀ HIỆN TRẠNG 1. Quá trình hình thành khu di tích Cổ Loa 1. Vị trí dia lý, điều kiện tự nhiên Khu di tích Cổ Loa theo phạm vi quy hoạch nằm trên địa bàn 4 xã: Cổ Loa, Dục Tú, Việt Hùng và Ủy Nỗ, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội. Trong đó phan lớn nằm trong địa giới hành chính xã Cổ Loa.
Trên bản đồ hành chính, Cổ Loa là một xã ngoại thành Hà Nội, một trong đơn vị hành chính cấp xã của huyện Đông Anh. Nằm trong tọa độ từ 21°10'B đến 21°05'B và từ 105°55'D đến 105°50”7. Cách trung tâm thành phố khoảng 16 km. Phía Đông giáp xã Dục Tú, phía Nam giáp xã Mai Lâm và xã Đông Hội, phía Tây giáp xã Xuân Canh và Vĩnh Ngọc, phía Bắc giáp xã Uy Nỗ va xã Việt Hùng.
Hiện nay, tô chức Cổ Loa gồm 3 thôn: Cầu Cả, Mach Tràng, Sàn Da; 11 xóm: Chợ, Chùa, Dõng, Ga, Hương, Lan Trì, Mit, Nhỏi Trên, Nhồi Dưới, Thượng, Vang và khu phố Xa [22;160]. Tính đến năm 2020, xã có diện tích tự nhiên 806,90ha, quy mô dân số khoảng 20. Dia mao Cổ Loa ngày nay chịu tác động của nhiều quá trình biến đổi khí hậu, chu kỳ biến tiến, biển thoái. Khu vực châu thé Bắc Bộ được xem như một tam giác châu, thấp dan tây bắc đông nam, trong đó Cé Loa là khu dat cao nằm rìa phía bắc của cạnh tam giác chau thế hệ thứ hai.
Vì vậy, đây được coi là nơi chuyền tiếp giữa trung du miễn núi và đồng bang. Địa hình do vậy là sự xen kẽ giữa dai đất cao và dai tring. Theo chiều từ bắc xuống nam, các dải gờ cao và dải trũng thững được định hướng gần song song, thường có dạng cánh cung, phù hợp với các dải cao, song thường có phương chung là tây bắc — đông nam, chọc vào giải gờ cao phía bắc. Tại phần rìa phía nam, đông nam, dải đồi gò bị phân cắt mạnh, nhiều mảng xâm thực tạo thành dải 13 trũng lồng vào địa hình.
Phía nam — đông nam là bề mặt đồng bang phăng thấp, xen kẽ các 6 tring và các gờ cao ven lòng sông. Theo chiều từ tây sang đông, địa hình thoải dan, các dai cao và dai tring cũng xen kẽ song song, có dấu vết uốn khúc của các lòng sông cổ, đoạn từ Mê Linh đến Tây Cổ Loa, địa hình bậc cao, tương đối phăng. Chính địa hình như vậy tác động đến việc xây thành, khai thác tối đa những điều kiện tự nhiên, thể hiện qua sự giảm độ cao tương đối của thành theo chiều bắc nam và việc tận dụng các lòng sông cổ, tạo thành hệ thống phục vụ phòng thủ và giao thông liên lạc với các khu vực xung quanh, thê hiện qua vai trò của sông Hoàng. Khát quát lịch sử hình thành Có Loa là vùng đất lâu đời, có lịch sử phát triển hàng nghìn năm.
Từ cách đây 20.000 năm, các nhà khảo cô đã tìm thấy các hiện vật thuộc nền văn hóa Sơn Vi, tại khu Đường Cả, gò Thư Cưu, cho thấy sự xuất hiện dấu tích liên quan đến sự tồn tại của con người. Sau đó, do ảnh hưởng của giai đoạn biển tiễn, phải đến khoảng 4000 năm cách ngày nay, khu vực Cô Loa mới bắt đầu xuất hiện trở lại cuộc sống của con người. Đây cũng là thời kỳ bước vào giai đoạn kim khí. Các di chỉ khảo cô học tiền Đông Sơn đã được phát hiện, thuộc nền văn hóa Phùng Nguyên — Đồng Đậu — Gò Mun tại các đoi đất cao bên bờ sông Hoàng Giang như: Đồng Vông, Bãi Mèn, Đình Tràng, Xuân Kiều, Lỗ Khê đã chỉ ra các dấu vét vật chất của thời kỳ tiền Đông Sơn và Đông Sơn như mũi tên đồng, khuôn đúc mũi tên đồng lưỡi cày đồng và đặc biệt là trống đồng Cổ Loa I.
Đây là giai đoạn, tạo dựng nhiều thành tố vật chất, kỹ thuật tạo tiền đề, cơ sở cho sự phát triển về sau mà đỉnh cao là nên văn hóa Đông Sơn. Cho đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn, Cổ Loa trở thành trung tâm văn minh quan trọng của người Việt, đặc biệt khi Thục Phán xuất hiện và xây thành tại đây. Rất nhiều sách đã nhắc đến việc xây thành Cổ Loa gắn với Thục Phán — An Dương Vương. Kế tục sự nghiệp của các Vua Hùng, An 14 Dương Vương đã liên kết hai nhóm người Tây Âu và Lạc Việt chống lại sự xâm lược của đề chế Tần.
Nhà nước Âu Lạc được thành lập trên cơ sở kế thừa những thành tựu phát triển của nước Văn Lang. Cổ Loa được lựa chọn làm kinh đô của nhà nước Âu Lạc. Việc chọn lựa kinh đô ở đây phản ánh một quá trình định cư từ miền núi, trung du xuống khai phá miền đồng băng của người Việt, phan ánh tư duy của sự phát triển mới. Khu vực Cô Loa với tiền dé phát triển từ trước đó là vùng đất đại diện cho xu thé phát trién mới của dân tộc lúc bay giờ.
Các nguồn sử liệu có nhiều ghi chép khác nhau về thành Cổ Loa. Sách Việt sử lược ghi: “Phan đắp thành ở Việt Thường (là đất Cổ Loa), xưng là An Dương Vuong’’[58;18]. 4n Nam Chí lược của Lê Tắc có ghi như sau: “Việt Vương thành: tục gọi là Kha Lũ, có một cái ao cổ, Quốc vương mỗi năm lay ngọc châu, dùng nước ao ay rửa thì sức ngọc tươi đẹp”; “Nay ở huyện Binh Dia, dau tích cung điện và thành trì của An Dương Vuong hãy con”[33;62]. Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, Ngô Sĩ Liên có ghi: “Bay giờ đắp thành ở Việt Thường, rộng hơn nghìn trượng, như hình trôn ốc, nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long.
Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới để khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi hung công dap lại”[27:49]. Đại Nam nhất thống chí, phần tinh Bắc Ninh, trong mục Cô tích đã nhắc gần như trong ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư: “Thành cũ Cô Loa: ở xã Cô Loa huyện Đông Ngàn. Sử chép, thì thành này do An Dương Vương xây đắp, rộng ngàn trượng, quanh co như hình trôn ốc, nên gọi là Loa Thành; lại có một tên nữa là thành Tử Long. Người Trung Quốc gọi là thành Côn Lôn, ý nói thành rất cao.
Sử chép Ngô Vương cũng đóng đô ở đây”[32:104]. Trải qua những đợt khai quật lớn đã phát hiện và chứng minh về một tòa thành với hơn 2000 năm lịch sử, đây được xác định là kinh đô của nhà nước Au Lạc, là tòa thành dat rộng lớn và được coi là có niên đại sớm nhât 15 khu vực Đông Nam Á. Bên cạnh chức năng định đô còn bao gồm chức năng quân sự. Thể hiện kỹ thuật, kiến thức, trình độ của người Việt trên nhiều lĩnh vực quân sự, xây dựng, kiến trúc, thủ công nghiệp,.là sản phẩm của chính người Việt.
Thành được xây dựng qua nhiều giai đoạn và được sửa sang, cải tạo, tồn tại ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau. Dựa vào các kết quả khai quật gần đây, các nhà khảo cô học đã đưa ra ý kiến về việc thời điểm xây dựng thành bắt đầu sớm hơn giai đoạn An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc. Trong nghiên cứu khai quật thành Trung, Nam C. Kim đã phân chia thời gian xây dựng thành làm 3 giai đoạn và 5 phân ky là: giai đoạn sớm (phân kỳ 1), giai đoạn giữa (phan kỳ 2-4) và giai đoạn muộn (phân kỳ 5).
Nhà khảo cô học nay cùng cộng sự cho rằng việc xây dựng các công trình phòng thủ dưới tường thành Cổ Loa được bắt đầu vào giai đoạn Đông Sơn giữa (khoảng 500 — 600BC), trước khi việc xây dựng các vòng thành và hào rộng dài diễn ra trong giai đoạn Đông Sơn muộn (khoảng 300 — 100BC) gắn liền với thé chế Cổ Loa, tức gần với thời kỳ An Dương Vương va nhà nước Âu Lac! [25;72]. ' Bang: Niên đại xây dựng hệ thong phòng vệ (Nguồn: Nam C.Kim, Kết quả nghiên cứu Thành Cổ Loa, Nxb Thể giới, tr.68) Giai đoạn Phân kỳ Khung niên đại | Quy mô xã hội khả nghỉ Sớm | Khoảng 500- 300 | Thể chế loại Cal BC chung Gitta 2-4 Khoảng 300— | Thể chế cấp nhà 100 Cal BC nước Cuối 5 Sau khoảng 100 | Thể chế cấp nhà Cal BC nước 16 Cho đến cuối thế kỷ III — đầu thế kỷ II TCN, xuất hiện một nhân vật có tên là Thục Phán, mặc dù nguồn gốc và xuất thân của nhân vật này còn nhiều tranh cãi, nhưng đến nay giới sử học đã tạm thời xác lập giả thuyết vé sự tập hợp giữa các liên minh bộ lạc cũng như hai cộng đồng Lạc Việt và Âu Việt vốn có quan hệ gần gũi về mặt chủng tộc, địa vực, kinh tế, văn hóa dé hình thành nên một nhà nước mở rộng hơn trước như cầu sản xuất cũng như đối diện với nguy cơ xâm lược từ phương Bắc. Mà sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tần là minh chứng cụ thé cho xu hướng phát triển đó. Thục Phan đã thể hiện sự đóng góp to lớn của mình vào công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi.
Nhà nước Âu Lạc được thành lập được xác định trên cơ sở kế thừa những thành tựu của nhà nước Văn Lang, của nền văn hóa Đông Sơn đang trên đà phát triển. Cổ Loa với vị trí và những lợi thế của mình với hàng loạt công cụ, vũ khí bang đồng đã được phát hiện tại cầu Vực, trình độ quân sự, về một số dân đông có mật độ tập trung cao đã được chọn làm đô thành của nhà nước cô đại mới số lượng về dân số lớn chắc chăn duy trì được vì tiềm năng nông nghiệp trồng lúa đáng ké của vùng thung lũng sông Hồng dé đáp ứng những nhu cầu của một xã hội cấp nhà nước, trong đó có việc huy động nhân lực cho những công trình hoành tráng [25;107]. Thành Cé Loa được thiết kế gồm 3 vòng thành. Tổng độ dài 3 vòng thành là 16.
Thành Nội hình chữ nhật, chu vi 1. Thanh cao trung bình, so với mặt đất hiện nay khoảng 5m, mặt thành rộng 10m, chân rộng 20m. Thành Nội chỉ có một cửa thành mở về phía Nam trông thăng vào Ngự triều di quy, tương truyền đó là nơi thiết triều của Vua Thục. Trên các tường thành Nội được đắp thành 16 trụ hỏa hồi [63;57].
Thành Trung là một vòng thành khép kín, không có hình dáng cân xứng, bao bọc phía ngoài thành Nội. Thanh Trung dài khoảng 6. Cao từ 6-12m, mặt rộng 10m, chân rộng 20 m. Tai cửa Nam có một đoạn tường thành là tường thành chung cho của thành Trung lẫn thành Ngoại.