phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được chia làm ba chương: Chƣơng I : Di sản và du lịch di sản 5 z Chƣơng II : Quản lý di sản trong hoạt động du lịch Chƣơng III: Hoạt động quản lý di sản vịnh Hạ Long CHƢƠNG I: DI SẢN VÀ DU LỊCH DI SẢN 1. Khái niệm di sản Trên thế giới, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về di sản. Có những định nghĩa khá ngắn gọn, ví dụ như định nghĩa của Fladmark năm 1998, Graham năm 2000, Tunbridge và Ashworth năm 1996 đều cho rằng: Di sản là những gì của quá khứ mà một xã hội muốn lưu giữ lại [22,2]. Hay định nghĩa của tác giả Hardy đưa ra năm 1998: “ Di sản là sợi dây liên kết với quá khứ, nó đại diện cho quyền thừa kế được chuyền giao cho thế hệ hiện tại và tương lai”[22,2].
Những định nghĩa này cho rằng di sản có xu hướng lựa chọn chứ không phải tất cả các di sản đều là giá trị xã hội. Di sản tồn tại hiện nay đã được chọn lựa từ trong quá khứ. Và dù vô tình hay cố ý thì xã hội đã lọc chọn di sản qua hệ thống giá trị xã hội thay đổi theo từng không gian và thời gian nhất định. Bên cạnh đó lại xuất hiện những định nghĩa mang tính chi tiết hơn như Hall và McArthur [26,9]chỉ rõ di sản là các giá trị cụ thể của từng cá nhân, gia đình, tập thể, quốc gia hay của tất cả mọi người.
Theo tác giả Bowes [19,35]đưa ra năm 1989 thì di sản gắn bó chặt chẽ với vùng. Di sản không chỉ bao gồm rất nhiều các điểm, các nơi mang tính lịch sử, mà còn là toàn bộ hệ phong cảnh với đặc điểm địa lý của vùng như: trang trại, cánh đồng, con đường, những trung tâm thương mại, và đương nhiên là bao gồm chính bản thân con người với truyền thống và các hoạt động kinh tế. 6 z Tác giả Asworth và Tunbrigde [22,33] lại nhìn di sản là cách sử dụng những giá trị của quá khứ của thế hệ hiện nay. Những sự thuyết minh về lịch sử, các toà nhà cổ, sản phẩm, ký ức, kỷ niệm mang tính chọn lựa chọn…đều nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và mang đặc điểm cá nhân, xã hội, dân tộc, vùng lãnh thổ.
Nó đem lại nguồn lợi kinh tế trong ngành công nghiệp di sản. Như vậy, giữa các học giả xuất hiện định nghĩa khác nhau về di sản. Một bên thì đồng nghĩa di sản với văn hoá, phong cảnh được cộng đồng quan tâm bảo vệ và sẽ được chuyển giao cho thế hệ tương lai. Mục đích sử dụng di sản gắn liền với việc bảo vệ chúng.
Di sản theo quan điểm này, nghiêng nhiều về các trung tâm di sản (Heritage centre). Quan điểm thứ hai khác với quản điểm trên, cho rằng: di sản đồng nghĩa với việc vận dụng, khai thác quá khứ vì mục đích thương mại. Di sản ở đây gắn với công nghiệp di sản (Heritage industry). Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều có khẳng định rằng: Di sản là sợi dây liên hệ với quá khứ, Di sản là hiện thân của sự kế thừa, chuyển giao từ thế hệ này hiện tại cho thế hệ tương lai bao gồm cả các truyền thống văn hoá (phi vật thể) và các tác phẩm mang tính vật chất (vật thể).
Di sản là những gì của quá khứ mà một xã hội mong muốn (được) lưu giữ lại. Di sản có thể là các giá trị ghi dấu cá nhân, gia đình, hay có thể là giá trị mang tầm vóc quốc gia thậm chí là các giá trị chung của toàn nhân loại. Di sản mang giá trị lớn và có thể khai thác phục vụ cho mục đích kinh tế. Phân loại di sản Phân loại di sản để đáp ứng tốt cho nhu cầu sử dụng và quản lý di sản hiệu quả.
Có nhiều cách phân loại di sản khác nhau dựa trên các tiêu chí khác 7 z nhau. Ở đây tác giả chỉ xin đưa ra hai tiêu chí phân loại phổ biến và rõ nét nhất: theo nội dung và theo giá trị.Phân loại theo nội dung Tuỳ thuộc vào tính hấp dẫn của tài nguyên di sản đối với từng đối tượng mà di sản được phân chia theo các nội dung khác nhau. PHÂN LOẠI THEO PRENTICE Prentice đưa ra thì di sản được phân thành: di sản vật thể và phi vật thể[28,11]. Trong đó di sản vật thể gồm: Di sản hữu hình bất động: các toà nhà, dòng sông, khu tự nhiên… Di sản hữu hình di chuyển được: các hiện vật trong bảo tàng, tài liệu văn thư lưu giữ… Di sản phi vật thể gồm: Di sản vô hình như các giá trị, tập quán, nghi lễ, lối sống, bao gồm cả các lễ hội, sự kiện văn hoá và nghê thuật.
PHÂN LOẠI THEO TUNBRIGE VÀ ASHWORTH Tunbrige và Ashworth [22,4] thì cho rằng di sản gồm: Các di tích của quá khứ Các sản phẩm của điều kiện sống hiện đại, nhưng chịu ảnh hưởng và được góp phần tạo nên bởi quá khứ. Các sản phẩm văn hoá, nghệ thuật được tạo nên trong quá khứ và hiện tại Các nhân tố thuộc về môi trường tự nhiên còn lại từ qúa khứ mang tính tiêu biểu, độc đáo và sẽ được chuyển giao cho thế hệ tương lai. Phần lớn các hoạt động thương mại dựa trên việc bán sản phẩm, dịch vụ liên quan đến di sản. 8 z PHÂN LOẠI THEO SWARBROOKE Còn với Swarbrooke[29,222] thì di sản luôn là sự hoà trộn giữa yếu tố hữu hình và vô hình như: Các toà nhà, công trình tưởng niệm lịch sử Những địa điểm ghi dấu ấn quan trọng trong quá khứ (như chiến trận) Phong cảnh cùng cuộc sống truyền thống của động vật hoang dã Ngôn ngữ, văn học, âm nhạc, nghệ thuật Các sự kiện truyền thống, văn hoá dân gian Phong cách sống truyền thống, bao gồm cả đồ ăn, thức uống, loại hình thể thao PHÂN LOẠI THEO UNESCO Mỗi tác giả đều có cách tiếp cận khác nhau khi tiến hành phân loại di sản.
Tuy nhiên, cho đến nay, cách phân loại được nhiều người biết đến và chấp nhận vẫn là quan điểm của UNESCO: di sản được chia thành di sản thiên nhiên và di sản văn hoá. Trong đó đáng quan tâm là tiêu chí để công nhận một di sản trở thành di sản thế giới. Đây cũng là cách phân loại mà tác giả sử dụng trong luận văn. Theo cách phân loại này, di sản thiên nhiên thế giới phải đảm bảo các tiêu chí sau: Là mẫu tiêu biểu cho giai đoạn tiến hoá trái đất Là mẫu tiêu biểu cho quá trình địa chất, tiến hoá sinh học Là mẫu tiêu biểu cho hệ sinh thái quan trọng nhất, phong cảnh đẹp, tổ hợp đặc sắc của tự nhiên và văn hoá Nơi cư trú tự nhiên còn sống xót thực vật, động vật bị đe doạ, có giá trị toàn cầu về mặt khoa học và bảo tồn Cũng theo cách phân loại của UNESCO thì di sản văn hóa thế giới phải đáp ứng các tiêu chí: Tác phẩm hàng đầu độc nhất, vô nhị của con người 9 z Ảnh hưởng đến sự phát triển nghệ thuật kiến trúc, cấu tạo không gian của một thời kỳ Chứng cứ cho 1 nền văn minh đã biến mất Ví dụ tiêu biểu cho thể loại xây dựng, kiến trúc, phản ánh một giai đoạn có ý nghĩa lịch sử.
Ví dụ hùng hồn về một dạng nhà ở truyền thống có nguy cơ bị huỷ hoại Liên quan trực tiếp đến sự kiện, tín ngưỡng, đáp ứng yêu cầu về ý tưởng sáng tạo vật liệu PHÂN LOẠI THEO LUẬT DI SẢN CỦA VIỆT NAM Tại Việt Nam, Luật di sản văn hoá Việt Nam cũng thể hiện rõ quan điểm phân loại di sản thành di sản thiên nhiên và di sản văn hoá. Di sản tự nhiên: là các thành tạo tự nhiên có ý nghĩa thẩm mỹ, khoa học và bảo tồn. Di sản văn hoá: là các sản phẩm, vật chất, tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, chia thành di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể. Di sản văn hoá vật thể: là sản phẩm vật chất, có giá trị văn hoá, lịch sử, khoa học, gồm: Tiếng nói, Chữ viết Tác phẩm văn học: sử thi, trường ca… Hình thức diễn xướng dân gian: múa, âm nhạc, trò chơi… Lối sống, phong tục: ma chay, cưới xin… Lễ hội truyền thống Bí quyết: nghề, y học,… Di sản văn hoá phi vât thể: là sản phẩm tinh thần, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, gồm: Danh lam thắng cảnh 10 z Di tích lịch sử văn hoá Di vật cổ vật bảo vật quốc gia Như vậy, trên đây, luận văn đã trình bày một số cách phân loại di sản trên thế giới và của Việt Nam.
Không thể đánh giá cách phân loại nào hay hơn kém hơn vì bản thân mỗi tổ chức đưa ra cách phân loại điều nhằm phục vụ cho mục đích sử dụng riêng của mình, xuất phát từ đặc điểm di sản ở từng quốc gia, từng vùng. Tại Việt Nam, di sản văn hoá chiếm ưu thế hơn hẳn so với di sản thiên nhiên về sự giàu có, đa dạng. Điều này giải thích vì sao luật di sản văn hoá được ra đời trước tiên, chứ không phải là luật di sản nói chung. Đứng ở góc độ quản lý di sản thì chúng ta vừa đáp ứng cách phân loại của UNESCO, vì Việt Nam là một thành viên của Công ước bảo vệ di sản năm 1972, lại vừa phải tuân thủ những quy định riêng về phân chia di sản theo luật hiện hành trong nước.
Hay nói cách khác, quản lý di sản cần dựa trên luật lệ, quy định quốc tế và quốc gia. Phân loại di sản theo giá trị Di sản không đồng hạng, mà tồn tại ở Di sản các mức độ khác nhau về giá trị: cấp thế giới, thế giới quốc gia, địa phương, cá nhân. Chúng liên kết Di sản với nhau bởi quan niệm di sản chung (Shared Di sản Di sản quốc địa chung gia heritage). phương MÔ HÌNH PHÂN LOẠI DI SẢN THEO GIÁ TRỊ Di sản Nguồn: Timothy (1997)[22,14] cá nhân DI SẢN THẾ GIỚI Đây là những di sản có tầm quan trọng đặc biệt, có sức hấp dẫn lớn, thu hút lượng lớn khách du lịch đến từ các quốc gia.
Đầu những năm 70 của thế kỷ trước, nhận thức về tầm quan trọng của các điểm di sản nổi tiếng thế giới 11 z đã trở thành mối quan tâm được đề cập trong các hội nghị quốc tế về các vườn quốc gia, sau đó là trong các chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc, chương trình Bầu sinh quyển và con người của UNESCO. Tại các cuộc thảo luận này, ý tưởng về một công ước quốc tế được đề cập và đạt được sự đồng thuận cao.