Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH, LỄ HỘI VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH, LỄ HỘI ĐÌNH GIANG VÕNG 1. Những vấn đề chung về quản lý di tích, lễ hội 1. Nghiên cứu một số khái niệm 1. Di tích, di tích lịch sử văn hóa - Di tích Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học… Di tích là di sản văn hóa lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy” [13, tr.
Tác giả Trần Quốc Vượng cho rằng: “Di tích là dấu vết, dấu tích của một công trình kiến trúc nào đó còn sót lại không nguyên vẹn từ thế kỷ 20 trở về trước, lùi sâu cho đến thời kỳ tiền sử, sơ sử” [43]. Từ hai khái niệm trên đây có thể nhận thấy trước hết di tích ra đời gắn với một thời kỳ lịch sử nhất định, trong quá trình tồn tại luôn có sự biến đổi theo thời gian vì vậy so với ban đầu di tích có thể đã bị biến đổi không còn nguyên vẹn tùy thuộc vào từng di tích cụ thể mà chúng có thể ở dạng này hay dạng khác. Di tích luôn gắn với không gian vật chất cụ thể không được tùy tiện chuyển dịch từ vị trí này sang vị trí khác hoặc tự ý thay đổi, chúng cần phải được bảo vệ bằng pháp luật. - Di tích lịch sử văn hóa Di tích lịch sử văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, cảnh quan thiên nhiên, khu vực thiên nhiên có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ.
Di tích lịch sử văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành nên di sản văn hóa, do đó cần được bảo vệ bằng pháp luật Tại Điều 1 của Luật Hiến chương quốc tế về bảo tồn và trùng tu di tích và di chỉ được thông qua tại Đại hội quốc tế lần thứ hai, các kiến trúc 12 sư và kỹ thuật gia về di tích lịch sử họp tại Vinece (1964) được ICOMOS chấp nhận năm 1965: Di tích lịch sử không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử, khái niệm này không chỉ áp dụng đối với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã cùng thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hóa [17, tr. Luật Di sản văn hóa do Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2001 quy định: “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [23, tr. Từ các khái niệm quốc tế, quốc gia nêu trên đây, đối chiếu với đối tượng quản lý là di tích đình Giang Võng hiện nay là một công trình kiến trúc liên quan đến tín ngưỡng đã được UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định xếp hạng là di tích lịch sử cấp tỉnh theo Quyết định số 4118/QĐ- UBND, ngày 07/12/2016. Tại Khoản 1, Điều 28 của Luật Di sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa quy định: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương; b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; 13 c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu; d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [24, tr.
Từ các tiêu chí quy định trong Luật DSVH, di tích đình Giang Võng sẽ được đối chiếu để lựa chọn xếp hạng. Đó là công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị phản ánh đời sống văn hóa tín ngưỡng của người dân làng chài trong quá trình lập nghiệp và ổn định cuộc sống lâu dài ở vùng biển Hạ Long. Lễ hội, lễ hội truyền thống - Lễ hội Lễ hội là một thuật ngữ khá phổ biến, đến nay chưa thống nhất chung một khái niệm, có nhiều cách hiểu, cách lý giải khác nhau trong giới nghiên cứu. Theo tác giả Phạm Quang Nghị: Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng, có tính phổ biến trong cộng đồng xã hội, có sức lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia.
Là sản phẩm sáng tạo của các thế hệ tiền nhân để lại cho hôm nay, lễ hội chứa đựng những mong ước thiết tha vừa thánh thiện, lại vừa đời thường, vừa thiêng liêng, vừa thế tục của bao thế hệ con người” [22, tr. Tác giả Trần Ngọc Thêm lại cho rằng: Lễ hội là sự tổng hợp cái linh thiêng và cái trần thế nhằm thể hiện lòng biết ơn và bày tỏ nguyện vọng cùng sự cầu mong của mình đối với tổ tiên và các thế lực siêu nhiên trong vũ trụ, phân bố theo không gian, có khuynh hướng thiên về tinh thần, mang đặc tính mở (lôi cuốn mọi người tìm đến); mục đích nhằm duy trì quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong làng xã [31, tr. 14 Tác giả Đoàn Văn Chúc lại quan niệm: Lễ là sự bảy tỏ kính ý đối với sự kiện xã hội hay tự nhiên, hư tưởng hay có thật, đã qua hay hiện tại được thực hành theo nghi điển rộng lớn và theo phương thức thẩm mỹ, nhằm biểu hiện giá trị của đối tượng được cử lễ và diễn đạt thái độ của công chúng hành lễ. Hội là cuộc vui chơi bằng vô số các hoạt động giải trí công cộng diễn ra tại một địa điểm nhất định vào dịp cuộc lễ kỷ niệm của một sự kiện xã hội hay tự nhiên nhằm diễn đạt sự phấn khích, hoan hỉ của công chúng dự lễ” [10, tr.
Như vậy có thể mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra một định nghĩa khác nhau, nhưng có thể nhận thấy một điểm chung đó là đều thống nhất lễ hội gồm hai thành tố “lễ” và “hội” trong cấu trúc của lễ hội. “Lễ” là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ không có khả năng thực hiện; “Hội” là tập hợp hội họp đông người và ở đó các trò diễn có tính nghi thức, các trò chơi, trò diễn để mọi người có thể tham gia, thực hiện. Lễ hội là hoạt động của một tập thể người liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo. Lễ hội bao gồm hai thành tố là “lễ” và “hội” kết hợp giữa tín ngưỡng và vui chơi, giữa con người và thần linh, giữa thế giới âm và dương.
để thông qua đó, con người có thể bày tỏ niềm mong ước của mình với các vị thần linh trên trời; đồng thời, thỏa mãn khát vọng trở về cội nguồn và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh cũng như nhu cầu giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng. - Lễ hội truyền thống Về lễ hội truyền thống có nhiều định nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào cách tiếp cận của từng tác giả. Trong cuốn Hán Việt từ điển, tác giả Đào Duy Anh đã định nghĩa khái niệm“truyền thống” như sau: “Thống có nghĩa là mối tỏ, đầu gốc; truyền có nghĩa là trao lại, trao cho và chúng luôn 15 đi liền với nhau mang ý nghĩa “Đời nọ truyền xuống đời kia”” [1, tr. Trong cuốn Hán Việt từ điển của Thiều Chửu thì quan niệm “Cố là xưa, cũ; Truyền là đem của người này trao cho người kia, trao đi; Thống là mối tơ, đầu gốc, đời đời nối dõi không dứt” [11, tr.
Ở Việt Nam, lễ hội được gọi bằng nhiều tên gọi như “lễ hội cổ truyền, lễ hội truyền thống” để chỉ những lễ hội được hình thành từ xa xưa được lưu truyền từ đời này sang đời khác trong cộng đồng. Các cụm từ “cổ truyền” hay “truyền thống” đều là từ Hán Việt để chỉ chung một đối tượng. Như vậy có thể hiểu “cổ truyền” và “truyền thống” là hai từ gần nghĩa nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Cổ truyền mang ý nghĩa trao lại cái cũ và mang ý nghĩa bất biến.
Truyền thống có ý nghĩa cởi mở hơn, một mặt truyền cái gốc, mặt khác có sự thích nghi sáng tạo để phù hợp với thực tế. Mỗi nhà nghiên cứu một quan niệm riêng nhưng có một điểm thống nhất chung là đều cho rằng lễ hội truyền thống là hình thái văn hóa có tính chất hai mặt trong một chỉnh thể thống nhất, là một hệ thống hành vi nghi thức biểu đạt thế ứng xử của cộng đồng hướng tới một hoặc một số đối tượng thần linh nhất định và những hoạt động văn hóa để minh họa cho các hành vi nghi lễ. Có thể nói, lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến của cộng đồng, lễ hội là dịp thể hiện tín ngưỡng thờ cúng thần linh nhưng cũng là hoạt động vui chơi, giải trí, sinh hoạt văn hóa tinh thần gắn bó trực tiếp với hoạt động sản xuất vật chất. Quản lý di tích và lễ hội - Quản lý Quản lý là gì? Một câu hỏi được đặt ra nhưng đến nay vẫn chưa có một câu trả lời thống nhất bởi có rất nhiều khái niệm, nhiều cách giải thích khác nhau từ các nhà nghiên cứu và các học giả: 16 Theo Haror Koontz, “Quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định”.
Theo Mariparker Follit, “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “Quản lý là động từ mang ý nghĩa: “Quản) là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và điều kiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định” [32, tr. Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; Quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển.